Công văn 4724/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2015 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các cơ quan thuế địa phương về việc xác định và thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nguồn gốc do lấn, chiếm. Văn bản này giúp làm rõ các quy định tại Nghị định số 45/2014/NĐ-CP và Thông tư số 76/2014/TT-BTC nhằm thống nhất cách áp dụng pháp luật trên cả nước.
- Nguyên tắc xác định nghĩa vụ tài chính đối với đất lấn, chiếm
- Việc thu tiền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nguồn gốc lấn, chiếm chỉ được thực hiện khi diện tích đất đó đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Sổ đỏ) theo quy định của pháp luật đất đai.
- Cơ quan thuế không tự xác định nguồn gốc đất mà phải căn cứ hoàn toàn vào hồ sơ địa chính, phiếu chuyển thông tin địa chính và văn bản xác nhận của cơ quan tài nguyên và môi trường hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã/huyện có thẩm quyền.
- Thời điểm tính tiền sử dụng đất được xác định là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận quyền sử dụng đất hoặc quyết định giao đất.
- Phân loại mức thu tiền sử dụng đất theo mốc thời gian lấn, chiếm
- Trường hợp lấn, chiếm trước ngày 15/10/1993: Nếu người sử dụng đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp và phù hợp với quy hoạch sử dụng đất thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận. Về nghĩa vụ tài chính, người sử dụng đất được áp dụng các chính sách ưu đãi tối đa, có thể không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp ở mức rất thấp đối với phần diện tích trong hạn mức giao đất ở.
- Trường hợp lấn, chiếm từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/07/2004: Người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo tỷ lệ phần trăm (%) do Chính phủ quy định đối với từng loại đất cụ thể. Mức thu này được tính toán dựa trên bảng giá đất tại thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ và có sự phân biệt rõ rệt giữa diện tích đất trong hạn mức và vượt hạn mức giao đất ở.
- Trường hợp lấn, chiếm từ ngày 01/07/2004 đến trước ngày 01/07/2014: Đây là giai đoạn pháp luật đất đai đã có quy định nghiêm ngặt về hành vi lấn chiếm. Do đó, nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính với mức thu cao (thường là 100% tiền sử dụng đất theo giá đất cụ thể hoặc giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành) nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
- Xác định giá đất làm căn cứ tính thu tiền sử dụng đất
- Giá đất áp dụng để tính tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở, giá đất được xác định theo Bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định nhân với hệ số điều chỉnh giá đất (hệ số K) do địa phương ban hành hàng năm.
- Đối với phần diện tích đất vượt hạn mức giao đất ở, giá đất được xác định là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo các phương pháp định giá đất khoa học, sát với giá thị trường tại thời điểm tính thuế.
- Quy trình phối hợp giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên - Môi trường
- Cơ quan tài nguyên và môi trường (hoặc Văn phòng đăng ký đất đai) có trách nhiệm lập hồ sơ, xác định rõ nguồn gốc, ranh giới, diện tích đất lấn chiếm, thời điểm bắt đầu sử dụng đất và chuyển đầy đủ thông tin địa chính sang cơ quan thuế.
- Cơ quan thuế có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, thực hiện đối chiếu các quy định pháp luật về thuế và tiền sử dụng đất để tính toán chính xác số tiền phải nộp, các khoản được miễn, giảm (nếu có).
- Sau khi xác định xong nghĩa vụ tài chính, cơ quan thuế ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất gửi cho người sử dụng đất để thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4724/TCT-CS | Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2015 |
Kính gửi: Chi cục Thuế huyện Ea Súp.
Trả lời Công văn số 146/CCTHCNSTV-TNCN&TK ngày 15/7/2015 của Chi cục Thuế huyện Ea Súp về thu tiền sử dụng đất lấn chiếm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại khoản 2, Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai, quy định: “2. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để ở mà tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm theo quy định tại Điều 22 Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, nhưng nay nếu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức công nhận đất ở theo giá đất quy định tại Bảng giá đất; nộp 100% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất vượt hạn mức công nhận đất ở theo giá đất quy định tại điểm b, điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trường hợp sử dụng đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở, nếu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất với thời hạn sử dụng lâu dài thì phải nộp 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại điểm b, điểm c Khoản 3 Điều 3 Nghị định này của loại đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp có thời hạn sử dụng đất cao nhất quy định tại Khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
- Tại khoản 1, khoản 2, Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP quy định: “1. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.
Việc xác định hộ nghèo theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; việc xác định hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của Chính phủ.
2. Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp Giấy chứng nhận đất lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo Danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng Chính phủ quy định.”
- Tại Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về xử lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có vi phạm pháp luật đất đai trước ngày 01/7/2014 quy định: “1. Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng sau khi Nhà nước đã công bố, cắm mốc hành lang bảo vệ hoặc lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè sau khi Nhà nước đã công bố chỉ giới xây dựng hoặc lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, công trình công cộng khác thì Nhà nước thu hồi đất để trả lại cho công trình mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã lấn, chiếm.
Trường hợp đã có điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt mà nay diện tích đất lấn, chiếm không còn thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng; không thuộc chỉ giới xây dựng đường giao thông; không có mục đích sử dụng cho trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và công trình công cộng khác thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác sắn liền với đất và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty nông nghiệp, lâm nghiệp thì thực hiện xử lý theo quy định như sau:
a) Trường hợp đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thu hồi đất đã lấn, chiếm để giao cho Ban quản lý rừng quản lý, sử dụng đất. Người đang sử dụng đất lấn, chiếm được Ban quản lý rừng xem xét giao khoán bảo vệ, phát triển rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Trường hợp không có Ban quản lý rừng thì người đang sử dụng đất lấn, chiếm được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
b) Trường hợp đang sử dụng diện tích đất lấn, chiếm thuộc quy hoạch sử dụng đất cho mục đích xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thu hồi đất đã lấn, chiếm để giao đất cho chủ đầu tư khi triển khai xây dựng công trình đó.
Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất nhưng phải giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;
c) Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Trường hợp lấn, chiếm đất kể từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014, đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp và hiện nay diện tích đất này vẫn được xác định giao cho nông trường, lâm trường quản lý, sử dụng thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi đất lấn, chiếm để trả lại cho nông trường, lâm trường.
3. Trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng hoặc tự ý chuyển mục đích sử dụng đất thuộc trường hợp phải xin phép theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thì thực hiện xử lý như sau:
a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.
Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;
b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
...5. Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điểm a và Điểm c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:
a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;
... d) Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Khoản này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.”
Căn cứ các quy định nêu trên và căn cứ Phiếu chuyển thông tin địa chính xác nhận: Trường hợp hộ gia đình bà Nguyễn Thị Hoài Thanh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Bình vào tháng 11/1996 và làm nhà ở từ năm 1996 đến nay, không có tranh chấp. Nguồn gốc đất do ông Bình khai phá lấn chiếm đất lâm nghiệp vào năm 1990 do Xã Ea Súp quản lý (không có văn bản ngăn chặn). Khi hộ gia đình bà Thanh được cấp Giấy chứng nhận thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
Do đó, đề nghị Chi cục Thuế báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xác minh diện tích đất ở do hộ gia đình bà Thanh đang sử dụng, nếu thuộc một trong các trường hợp được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại Khoản 1, điểm a và Điểm c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, thì phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP nêu trên và được xem xét miễn tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 11 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
Tổng cục Thuế thông báo để Chi Cục Thuế được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 4604/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách thu tiền sử dụng đất về miễn tiền chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 4723/TCT-CS năm 2015 về thu tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 4637/TCT-CS năm 2015 về thu tiền sử dụng đất đối với đất tín ngưỡng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 4658/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật Đất đai 2003
- 2Luật đất đai 2013
- 3Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- 4Nghị định 45/2014/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất
- 5Công văn 4604/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách thu tiền sử dụng đất về miễn tiền chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 4723/TCT-CS năm 2015 về thu tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 4637/TCT-CS năm 2015 về thu tiền sử dụng đất đối với đất tín ngưỡng do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 4658/TCT-CS năm 2015 giải đáp chính sách chậm nộp tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4724/TCT-CS năm 2015 về thu tiền sử dụng đất lấn chiếm do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4724/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/11/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Ngô Văn Độ
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/11/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
