Giới thiệu chung về Công văn 373/BTTP-CC năm 2015
Công văn 373/BTTP-CC được Cục Bổ trợ tư pháp thuộc Bộ Tư pháp ban hành nhằm hướng dẫn nghiệp vụ công chứng, chứng thực liên quan đến việc thực hiện khoản 1 Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ các vướng mắc thực tế khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình.
Nội dung hướng dẫn trọng tâm của Công văn 373/BTTP-CC
Công văn tập trung làm rõ phương thức xác định thành viên hộ gia đình sử dụng đất và thẩm quyền ký tên trên các hợp đồng, giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Xác định tư cách thành viên hộ gia đình sử dụng đất: Thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Nguyên tắc ký hợp đồng, giao dịch: Khi thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, hợp đồng phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.
- Yêu cầu đối với tổ chức hành nghề công chứng: Các công chứng viên khi thực hiện công chứng hợp đồng, giao dịch phải hướng dẫn người yêu cầu công chứng xuất trình các giấy tờ chứng minh nhân thân, sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xác định chính xác các thành viên hộ gia đình có quyền chung đối với tài sản.
Ý nghĩa thực tiễn và giải pháp tháo gỡ vướng mắc
Việc ban hành Công văn 373/BTTP-CC mang lại nhiều giá trị pháp lý và thực tiễn thiết thực cho hoạt động bổ trợ tư pháp:
- Hạn chế tranh chấp đất đai: Việc xác định rõ ràng các thành viên hộ gia đình có quyền sử dụng đất tại thời điểm xác lập quyền giúp ngăn ngừa tình trạng một hoặc một vài thành viên tự ý định đoạt tài sản chung, giảm thiểu tối đa các tranh chấp dân sự kéo dài.
- Thống nhất quy trình công chứng: Tạo ra một hành lang nghiệp vụ thống nhất cho các tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước, tránh tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu gây phiền hà cho người dân.
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên: Đảm bảo tính pháp lý chặt chẽ cho các giao dịch bất động sản, giúp người nhận chuyển nhượng hoặc bên nhận thế chấp yên tâm về mặt pháp lý của tài sản giao dịch.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 373/BTTP-CC | Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2015 |
Kính gửi: Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp
Cục Bổ trợ tư pháp nhận được Công văn số 291/STP-BTTP ngày 31/3/2015 của Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp hỏi về việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) trong trường hợp ký hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà thành viên trong hộ gia đình không có tên trên giấy chứng nhận, Cục Bổ trợ tư pháp xin trao đổi như sau:
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của chủ hộ. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của hộ gia đình (Điều 107). Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý (Điều 109). Như vậy, khi hộ gia đình thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì ngoài các thành viên trong hộ gia đình có tên trên giấy chứng nhận ký tên hoặc người được ủy quyền ký tên vào hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP thì chủ hộ cũng phải ký tên vào hợp đồng, văn bản giao dịch với tư cách đại diện của hộ gia đình. Trường hợp hộ gia đình có thành viên khác có quyền lợi liên quan đến quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất mà không có tên trên giấy chứng nhận thì phải được sự đồng ý bằng văn bản của thành viên có độ tuổi từ đủ mười lăm tuổi trở lên trước khi đại diện chủ hộ ký kết hợp đồng, giao dịch.
Trên đây là ý kiến của Cục Bổ trợ tư pháp, gửi Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 2042/BTP-ĐKGDBĐ năm 2015 hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do Bộ Tư pháp ban hành
- 2Công văn 4300/VPCP-NN năm 2017 kiến nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Kháng Chiến do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Công văn 1701/TCT-CS năm 2017 về trường hợp tính thuế thu nhập cá nhân và rút vốn bằng quyền sử dụng đất thuê của Nhà nước do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Bộ luật Dân sự 2005
- 2Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai
- 3Công văn 2042/BTP-ĐKGDBĐ năm 2015 hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất do Bộ Tư pháp ban hành
- 4Công văn 4300/VPCP-NN năm 2017 kiến nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Kháng Chiến do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 5Công văn 1701/TCT-CS năm 2017 về trường hợp tính thuế thu nhập cá nhân và rút vốn bằng quyền sử dụng đất thuê của Nhà nước do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 373/BTTP-CC năm 2015 thực hiện khoản 1 Điều 64 Nghị định 43/2014/NĐ-CP do Bộ Tư Pháp ban hành
- Số hiệu: 373/BTTP-CC
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 18/05/2015
- Nơi ban hành: Bộ Tư pháp
- Người ký: Nguyễn Khái Hưng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 18/05/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
