Giới thiệu về Công văn 3709/TCT-QLN năm 2018
Công văn 3709/TCT-QLN được Tổng cục Thuế ban hành vào ngày 18 tháng 09 năm 2018 nhằm đôn đốc, chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác quản lý, cưỡng chế thu hồi nợ thuế. Văn bản này hướng dẫn các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quyết liệt các biện pháp cưỡng chế đối với các trường hợp chây ỳ, nợ thuế kéo dài, góp phần hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách nhà nước.
Các nội dung trọng tâm về cưỡng chế nợ thuế
Công văn tập trung chỉ đạo các cơ quan thuế thực hiện nghiêm túc các quy trình quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định của pháp luật, cụ thể bao gồm các nội dung cốt lõi sau:
- Rà soát, phân loại chính xác các khoản nợ thuế: Cơ quan thuế phải thực hiện rà soát thường xuyên, liên tục để phân loại chính xác các khoản nợ thuế (bao gồm nợ có khả năng thu, nợ khó thu, nợ đang khiếu nại...). Việc phân loại này là cơ sở để áp dụng các biện pháp đôn đốc hoặc cưỡng chế phù hợp với từng đối tượng người nộp thuế.
- Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp cưỡng chế: Đối với các trường hợp người nộp thuế có khoản nợ thuế quá hạn thuộc diện phải cưỡng chế, cơ quan thuế phải ban hành quyết định cưỡng chế kịp thời. Các biện pháp cưỡng chế được thực hiện theo thứ tự quy định, bao gồm: trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại tổ chức tín dụng; khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập; thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng; kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên; thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Kiên quyết cưỡng chế ngừng sử dụng hóa đơn: Đây là một trong những biện pháp mạnh mẽ và hiệu quả được nhấn mạnh trong công văn. Khi quyết định cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng có hiệu lực, cơ quan thuế phải đăng tải ngay thông tin lên trang thông tin điện tử ngành thuế để ngăn chặn việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.
- Công khai thông tin người nộp thuế chây ỳ nợ thuế: Thực hiện công khai danh sách các doanh nghiệp, cá nhân nợ thuế lớn, kéo dài trên các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, trang thông tin điện tử của cơ quan thuế) theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế nhằm tạo áp lực dư luận và nâng cao ý thức tự giác chấp hành của người nộp thuế.
- Tăng cường phối hợp liên ngành: Cơ quan thuế cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng liên quan như Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng, cơ quan công an, cơ quan đăng ký kinh doanh và chính quyền địa phương để xác minh thông tin tài khoản, tài sản và thực hiện cưỡng chế nợ thuế đạt hiệu quả cao nhất.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện của cơ quan thuế các cấp
Để đảm bảo các nội dung chỉ đạo được thực hiện đồng bộ và hiệu quả, Tổng cục Thuế yêu cầu:
- Trách nhiệm của Thủ trưởng cơ quan thuế: Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải trực tiếp chỉ đạo, giao chỉ tiêu thu nợ, cưỡng chế nợ thuế cụ thể đến từng Chi cục Thuế, từng phòng, từng đội thuế và từng cán bộ quản lý nợ.
- Công tác giám sát, báo cáo định kỳ: Các đơn vị phải thường xuyên theo dõi, giám sát tiến độ thực hiện cưỡng chế nợ thuế, định kỳ tổng hợp kết quả và báo cáo về Tổng cục Thuế để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
- Xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm: Xem xét trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, chậm trễ trong việc ban hành quyết định cưỡng chế hoặc thực hiện không đúng quy trình cưỡng chế nợ thuế dẫn đến thất thu ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3709/TCT-QLN | Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2018 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Cà Mau
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 1053/CT-QLN ngày 26/6/2018 của Cục Thuế tỉnh Cà Mau về việc cưỡng chế nợ thuế đối với Công ty cổ phần phát triển đô thị dầu khí (Công ty). Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 100 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 quy định về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ như sau:
“1. Việc cưỡng chế thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác (sau đây gọi là bên thứ ba) đang nắm giữ được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
b) Cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế.
2. Nguyên tắc thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế từ bên thứ ba được quy định như sau:
a) Bên thứ ba có khoản nợ đến hạn phải trả cho đối tượng bị cưỡng chế hoặc giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thì có trách nhiệm nộp tiền thuế nợ, tiền phạt thay cho đối tượng bị cưỡng chế;
b) Trường hợp tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do bên thứ ba đang nắm giữ là đối tượng của các giao dịch bảo đảm hoặc thuộc trường hợp giải quyết phá sản thì việc thu tiền, tài sản khác từ bên thứ ba được thực hiện theo quy định của pháp luật;
…”
Khoản 3 Điều 47 Luật thi hành án dân sự số 12/VBHN-VPQH ngày 11/12/2014 quy định về thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án như sau:
“3. Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản theo quy định tại Điều này.”
Căn cứ các quy định nêu trên: Cơ quan quản lý thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do bên thứ ba đang nắm giữ khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1 - Điều 100 - Luật Quản lý thuế. Nguyên tắc thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế từ bên thứ ba được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 - Điều 100 - Luật Quản lý thuế. Trường hợp Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu tiến hành phát mại tài sản của Công ty cổ phần phát triển đô thị dầu khí thế chấp tại Ngân hàng thương mại TNHH MTV Đại Dương (Oceanbank - là bên thứ ba giữ tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế) thì thứ tự thanh toán được thực hiện theo quy định tại Điều 47 - Luật thi hành án dân sự nêu trên.
Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế tỉnh Cà Mau tiếp tục phối hợp với cơ quan thi hành án, thực hiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với Công ty cổ phần phát triển đô thị dầu khí theo đúng quy định của Luật quản lý thuế để thu hồi nợ thuế của Công ty vào ngân sách nhà nước.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Cà Mau biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 3523/TCT-QLN năm 2018 về khoanh nợ, không tính tiền chậm nộp và tạm dừng cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Chỉ thị 04/CT-BTC năm 2018 về tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu hồi nợ thuế để giảm nợ đọng ngành thuế quản lý do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 5039/TCT-QLN năm 2018 về cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2014 hợp nhất Luật thi hành án dân sự do Văn phòng Quốc hội ban hành
- 3Công văn 3523/TCT-QLN năm 2018 về khoanh nợ, không tính tiền chậm nộp và tạm dừng cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Chỉ thị 04/CT-BTC năm 2018 về tăng cường công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu hồi nợ thuế để giảm nợ đọng ngành thuế quản lý do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5Công văn 5039/TCT-QLN năm 2018 về cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 3709/TCT-QLN năm 2018 về cưỡng chế nợ thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3709/TCT-QLN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/09/2018
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Đỗ Thị Hồng Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/09/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
