Tóm tắt Công văn 3259/TCT-CS về xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Công văn 3259/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thống nhất thực hiện các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về thuế. Văn bản tập trung vào việc hướng dẫn quy trình phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan điều tra trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, mua bán hóa đơn bất hợp pháp.
Nguyên tắc xử lý khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm về thuế
Công văn hướng dẫn cụ thể quy trình chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự từ cơ quan thuế sang cơ quan điều tra:
- Chuyển hồ sơ kịp thời: Khi qua công tác kiểm tra, thanh tra thuế phát hiện người nộp thuế có hành vi trốn thuế, gian lận thuế hoặc mua bán, sử dụng hóa đơn không hợp pháp có dấu hiệu tội phạm, cơ quan thuế phải lập hồ sơ và chuyển ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự, không được giữ lại để xử phạt hành chính.
- Tạm đình chỉ giải quyết vi phạm hành chính: Trong thời gian chờ kết luận từ cơ quan điều tra, cơ quan thuế tạm dừng việc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với các hành vi đang bị điều tra để đảm bảo nguyên tắc không xử phạt trùng lặp.
Xử lý kết quả dựa trên kết luận của cơ quan điều tra
Tùy thuộc vào kết luận cuối cùng của cơ quan công an hoặc tòa án, việc xử lý thuế được thực hiện theo các phương án sau:
- Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự: Nếu cơ quan điều tra quyết định không khởi tố vụ án, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án do hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có dấu hiệu vi phạm hành chính, cơ quan thuế tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Trường hợp có bản án, quyết định của Tòa án: Cơ quan thuế căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án để thực hiện việc truy thu thuế, tính tiền chậm nộp, áp dụng tiền phạt hoặc thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế theo đúng quy định pháp luật.
Tăng cường công tác phối hợp và phòng chống gian lận hóa đơn điện tử
Tổng cục Thuế nhấn mạnh việc kiểm soát chặt chẽ hóa đơn điện tử nhằm ngăn chặn tình trạng thành lập doanh nghiệp "ma" để mua bán hóa đơn trái phép:
- Áp dụng công nghệ thông tin và quản lý rủi ro: Sử dụng hệ thống phân tích dữ liệu hóa đơn điện tử để phát hiện nhanh các doanh nghiệp có doanh thu biến động bất thường, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng nộp thấp so với doanh số, hoặc có dấu hiệu mua bán hóa đơn liên tỉnh.
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an: Thiết lập cơ chế trao đổi thông tin nhanh chóng, cung cấp tài liệu, chứng từ kịp thời khi có yêu cầu từ cơ quan điều tra nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án liên quan đến trốn thuế và hóa đơn.
Ý nghĩa của việc ban hành Công văn 3259/TCT-CS
Công văn 3259/TCT-CS là cơ sở pháp lý quan trọng giúp chuẩn hóa quy trình xử lý vi phạm thuế, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tránh việc hành chính hóa các quan hệ hình sự hoặc ngược lại. Đồng thời, văn bản này góp phần bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng cho các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3259/TCT-CS | Hà Nội, ngày 25 tháng 08 năm 2010 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Khánh Hòa
Trả lời công văn số 4607/CT-THNVDT ngày 21/7/2010 của Cục thuế tỉnh Khánh Hòa về xử lý vi phạm pháp luật về thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 100/2004/NĐ-CP ngày 25/02/2004 của Chính phủ quy định: “Xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế đối với hành vi nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt so với ngày quy định phải nộp ghi trong thông báo nộp thuế, quyết định xử phạt. Trường hợp không có thông báo thuế thì thời gian tính phạt nộp chậm căn cứ vào thời hạn phải nộp thuế theo quy định tại các Luật thuế, Pháp lệnh thuế”.
Tại Khoản 1, Mục II phần B Thông tư số 41/2004/TT-BTC ngày 18/5/2004 của Bộ Tài chính quy định: “Cá nhân, tổ chức có hành vi nộp chậm tiền thuế hoặc tiền phạt so với ngày quy định phải nộp ghi trong thông báo nộp thuế, lệnh thu hoặc thời hạn phải nộp theo quy định của văn bản pháp luật về thuế, quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà vẫn không nộp tiền thuế, tiền phạt theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền có thể bị áp dụng biện pháp tạm đình chỉ sử dụng hóa đơn”.
Tại Khoản 2 Điều 19 Luật thuế Giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 ngày 10/5/1997 và Khoản 2 Điều 23 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 quy định xử lý vi phạm về thuế đối với đối tượng nộp thuế: “Nộp chậm tiền thuế, tiền phạt so với ngày quy định phải nộp hoặc quyết định xử lý về thuế thì ngoài việc nộp đủ số thuế, số tiền phạt, mỗi ngày nộp chậm còn phải nộp phạt 0,1% (một phần nghìn) số tiền nộp chậm”.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ thì mức xử phạt là 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với hành vi chậm nộp tiền thuế.
Tại Khoản 3 Điều 66 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ quy định: “Việc xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về thuế đã xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được áp dụng theo quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời Điểm đó.
Trường hợp mức xử phạt đối với cùng một hành vi quy định tại Nghị định này nhẹ hơn mức xử phạt quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật pháp luật đã ban hành trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được áp dụng mức xử phạt theo quy định của Nghị định này, kể cả trường hợp hành vi vi phạm đã bị lập biên bản, nhưng cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định xử lý hoặc đã ra quyết định xử lý nhưng đang trong thời hiệu giải quyết khiếu nại.”
Căn cứ các quy định nêu trên, mức xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế trước ngày 01/01/2007 (phạt 0,1% số tiền nộp chậm trên mỗi ngày nộp chậm) cao hơn mức xử phạt thực hiện từ 01/07/2007 (0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp). Theo quy định tại Khoản 3 Điều 66 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn xảy ra trước ngày 01/07/2007 nhưng được phát hiện sau ngày 01/07/2007, chưa đủ căn cứ xác định là hành vi trốn thuế theo hướng dẫn tại công văn số 8585/BTC-TCT ngày 08/07/2005 của Bộ Tài chính thì cơ quan thuế ngoài việc truy thu đủ số thuế còn thiếu hoặc số thuế được hoàn không đúng theo quy định, xử phạt về hành vi vi phạm trong lĩnh vực kế toán hoặc lĩnh vực hóa đơn, chứng từ (nếu có), người nộp thuế còn bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với hành vi chậm nộp tiền thuế. Thời gian tính phạt từ ngày quy định phải nộp ghi trong thông báo nộp thuế hoặc theo quy định của các Luật thuế đến ngày người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế còn thiếu (hoặc số tiền được hoàn không đúng quy định) vào Ngân sách Nhà nước.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế tỉnh Khánh Hòa biết và căn cứ từng hành vi vi phạm của người nộp thuế tại từng thời Điểm cụ thể để áp dụng xử phạt theo quy định./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 8585/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
- 2Nghị định 98/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- 3Luật Thuế giá trị gia tăng 1997
- 4Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003
- 5Nghị định 100/2004/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế
- 6Thông tư 41/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 100/2004/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 7Công văn 659/TCT-CS xử lý vi phạm pháp luật về thuế do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 3259/TCT-CS xử lý vi phạm pháp luật về thuế do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3259/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/08/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/08/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
