Hệ thống pháp luật
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 3235/TCT-CS
V/v chính sách thuế.

Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2017

 

Kính gửi: Tổng Công ty Truyền hình Cáp Việt Nam
(Đ/c: số 844 đường La Thành, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội)

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 613/VTVcab-CV ngày 18/5/2017 của Tổng Công ty Truyền hình Cáp Việt Nam về chính sách thuế. Căn cứ ý kiến của Cục Thuế thành phố Hà Nội tại công văn số 65062/CT-TTHT ngày 18/10/2016 và cuộc họp ngày 05/7/2017 tại Văn phòng Tổng cục Thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại tiết n khoản 3 Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“3. Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp xác định như sau:

n) Đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:

- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ thì doanh thu tính thuế là doanh thu của từng bên được chia theo hợp đồng.

- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng sản phẩm thì doanh thu tính thuế là doanh thu của sản phẩm được chia cho từng bên theo hợp đồng.

- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu để xác định thu nhập trước thuế là số tiền bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải cử ra một bên làm đại diện có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí, xác định lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp chia cho từng bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh. Mỗi bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh tự thực hiện nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của mình theo quy định hiện hành.

- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế là số tiền bán hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng. Các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải cử ra một bên làm đại diện có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí và kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho các bên còn lại tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.”

Căn cứ hướng dẫn trên và hồ sơ gửi kèm tại công văn số 613/VTVcab-CV ngày 18/5/2017, Tổng cục Thuế thống nhất với hướng dẫn của Cục Thuế thành phố Hà Nội tại công văn số 65062/CT-TTHT ngày 18/10/2016: trường hợp Tổng công ty Truyền hình cáp Việt Nam ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với các đối tác để cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhưng không thành lập pháp nhân, các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh cử ra một bên làm đại diện có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, chi phí và đã kê khai toàn bộ nghĩa vụ thuế GTGT của hoạt động hợp tác thì khi phân chia doanh thu và chi phí không bao gồm thuế GTGT, các bên không phải lập hóa đơn mà lập chứng từ thu, chi và không phải kê khai trên tờ khai thuế GTGT.

Tổng cục Thuế có ý kiến để Tổng Công ty Truyền hình Cáp Việt Nam được biết./.

 


Nơi nhận:
- Cục Thuế thành phố Hà Nội;
- Vụ PC (BTC);
- Vu PC KK&KTT, DNL (TCT);
- Như trên;
- Website Tổng cục Thuế;
- Lưu: VT, CS(3).

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH




Lưu Đức Huy