Công văn 3167/BTC-CST năm 2017 do Bộ Tài chính ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng gạo. Văn bản này giúp làm rõ các quy định về thuế suất và nghĩa vụ kê khai thuế GTGT đối với sản phẩm gạo ở từng khâu từ sản xuất, thương mại đến xuất khẩu, tạo sự thống nhất trong việc thực thi pháp luật thuế trên toàn quốc.
Chính sách thuế GTGT đối với gạo ở khâu tự sản xuất và nhập khẩu
Đối với sản phẩm thóc, gạo ở khâu đầu tiên của chuỗi cung ứng, chính sách thuế GTGT được áp dụng như sau:
- Khâu tự sản xuất bán ra: Thóc, gạo do các tổ chức, cá nhân tự trồng trọt, bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Quy định này nhằm hỗ trợ và khuyến khích phát triển ngành sản xuất nông nghiệp trong nước.
- Khâu nhập khẩu: Thóc, gạo ở khâu nhập khẩu cũng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, giúp bình ổn giá cả lương thực và giảm bớt gánh nặng chi phí cho doanh nghiệp nhập khẩu.
Chính sách thuế GTGT đối với gạo ở khâu kinh doanh thương mại
Đây là nội dung trọng tâm của Công văn 3167/BTC-CST, phân định rõ nghĩa vụ thuế dựa trên phương pháp tính thuế và đối tượng mua hàng:
- Trường hợp bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã: Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ khi bán thóc, gạo cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hóa đơn GTGT, dòng thuế suất và tiền thuế không ghi, gạch chéo. Doanh nghiệp bán vẫn được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định hiện hành.
- Trường hợp bán cho các đối tượng khác: Khi doanh nghiệp, hợp tác xã bán thóc, gạo cho các đối tượng không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã (như hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân tiêu dùng trực tiếp) thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất là 5%.
- Trường hợp áp dụng phương pháp tính trực tiếp: Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ và cá nhân kinh doanh nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng, khi bán thóc, gạo ở khâu kinh doanh thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.
Chính sách thuế GTGT đối với gạo xuất khẩu
Để khuyến khích hoạt động xuất khẩu nông sản ra thị trường quốc tế, Bộ Tài chính hướng dẫn chính sách thuế ưu đãi đối với gạo xuất khẩu:
- Áp dụng thuế suất 0%: Gạo xuất khẩu ra nước ngoài hoặc bán vào khu phi thuế quan được áp dụng mức thuế suất GTGT là 0%. Để được hưởng mức thuế suất này, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về hồ sơ, thủ tục xuất khẩu bao gồm: hợp đồng xuất khẩu, chứng từ thanh toán qua ngân hàng và tờ khai hải quan theo quy định.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn 3167/BTC-CST đã tháo gỡ nhiều vướng mắc cho các doanh nghiệp kinh doanh nông sản trong việc lập hóa đơn và kê khai thuế GTGT. Việc phân định rõ ràng các trường hợp không phải kê khai tính nộp thuế, chịu thuế 5% hoặc chịu thuế 0% giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát rủi ro pháp lý, tối ưu hóa dòng tiền thông qua việc khấu trừ thuế đầu vào hợp lệ, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3167/BTC-CST | Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2017 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp
Ngày 30/11/2016 Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp đã có công văn số 872/UBND-KTN gửi Thủ tướng Chính phủ về kiến nghị tháo gỡ một số khó khăn trong lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có kiến nghị về việc xem xét bỏ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với gạo.
Thực hiện quy chế làm việc của Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 138/2016/NĐ-CP ngày 01/10/2016, ngày 8/12/2016, Văn phòng Chính phủ (VPCP) đã có công văn số 10653/VPCP-KTTH chuyển văn bản nêu trên của UBND tỉnh Đồng Tháp đến các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo chức năng, nhiệm vụ được giao xử lý theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Về kiến nghị của UBND tỉnh Đồng Tháp liên quan đến chính sách thuế GTGT, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
Pháp luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) hiện hành quy định 03 mức thuế suất là 0%, 5% và 10%. Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (theo thông lệ quốc tế). Mức thuế suất 5% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho đời sống và hàng hóa, dịch vụ là đầu vào sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. Mức thuế suất 10% áp dụng đối với các hàng hóa, dịch vụ thông thường khác.
Thuế GTGT thu theo hàng hóa, dịch vụ không phân biệt đối tượng, mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Theo quy định của Luật thuế GTGT hiện hành thì thuế GTGT thu đối với gạo cũng như đối với các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác như sau:
Khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT quy định “sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu” thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT;
Khoản 2 Điều 8 quy định “sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến, trừ sản phẩm quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật này ” thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với thuế suất 5%;
Khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế quy định:
“Doanh nghiệp, hợp tác xã mua sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”
Căn cứ các quy định nêu trên thì:
- Gạo của tổ chức, cá nhân trực tiếp sản xuất bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, phù hợp với thực tế hầu hết nông dân không thực hiện hạch toán kế toán, lưu giữ sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ khi mua hàng hóa, dịch vụ, không thể áp dụng kê khai, khấu trừ và tính nộp thuế GTGT đối với sản xuất gạo cũng như các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác.
- Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho sản xuất lúa gạo không được khấu trừ mà phải tính vào chi phí. Do vậy Luật thuế GTGT quy định các hàng hóa, dịch vụ mua vào phục vụ cho sản xuất lúa gạo đều được quy định không chịu thuế GTGT (phân bón, giống, máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dịch vụ tưới, tiêu nước, cày, bừa đất, nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp, dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp,...) hoặc áp dụng thuế suất thấp 5% (đào đắp, nạo vét kênh, mương, ao hồ phục vụ sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng; sơ chế, bảo quản sản phẩm nông nghiệp,...) đã khuyến khích sản xuất nông nghiệp, giảm giá thành sản xuất lúa gạo.
- Gạo bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Như vậy, trong khâu sản xuất, xay xát, gạo không chịu thuế GTGT (không có thuế GTGT đối với gạo), doanh nghiệp sản xuất gạo không những không phải ứng vốn để trả thuế GTGT khi mua gạo mà còn không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT khi bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã (giảm thủ tục hành chính, chi phí trong kê khai, nộp thuế GTGT), và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào của sản xuất, kinh doanh gạo làm hạ giá thành gạo tại các khâu thương mại trung gian, qua đó tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
- Gạo do doanh nghiệp sản xuất kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ tại khâu cuối bán lẻ trực tiếp hoặc bán cho hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì mới phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5%. Đây là mức thuế suất ưu đãi so mức thuế suất 10% thông thường. Cơ sở sản xuất, kinh doanh bán lẻ gạo được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh trong khâu bán lẻ bảo đảm giá cả thấp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
- Gạo xuất khẩu được áp dụng mức thuế suất thuế GTGT 0%, cơ sở kinh doanh xuất khẩu gạo được hoàn lại số thuế GTGT đầu vào của gạo xuất khẩu theo quy định, qua đó giúp sản phẩm nông nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Như vậy, chính sách thuế GTGT đối với gạo cũng như đối với các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác đang được ưu đãi ở mức cao nhất. Chính sách này cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hơn là tư thương bán buôn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh chiếm lĩnh thị phần qua đó trở thành đầu mối sản xuất, kinh doanh gạo.
Hơn nữa, việc mua gạo tư thương tại các chợ truyền thống cũng như những thực phẩm khác thực tế là do thói quen của người dân và giá bán gạo của doanh nghiệp chưa cạnh tranh bằng giá của hộ tư thương cơ bản không có nguyên nhân từ áp dụng thuế GTGT với mức thuế suất 5%, việc sửa đổi chuyển gạo sang đối tượng không chịu thuế sẽ không có khả năng giúp doanh nghiệp cạnh tranh được với hộ tư thương. Mặt khác, với giá gạo mua từ người nông dân giữa doanh nghiệp và hộ tư thương như nhau thì về nguyên tắc, giá thành gạo của doanh nghiệp cần thấp hơn của hộ tư thương do quy mô lớn hơn, năng suất (xay xát, đánh bóng, đóng gói) cao hơn. Bên cạnh đó còn mức lợi nhuận trên đơn vị sản phẩm, dù định mức thấp hơn thì doanh nghiệp vẫn có khả năng đạt quy mô lợi nhuận lớn hơn.
Từ những nội dung trên, ý kiến cho rằng mức chênh lệch giá là do việc áp dụng thuế suất thuế GTGT 5% đối với doanh nghiệp trong khi tư thương bán buôn nộp mức thuế khoán 1% trên doanh thu, dẫn đến doanh nghiệp bất lợi trong cạnh tranh tiêu thụ gạo nội địa, khó xây dựng được thương hiệu gạo trong khi các hàng hóa nông lâm, thủy hải sản khác cùng áp dụng chính sách thuế GTGT mà không gặp khó khăn như gạo là chưa xác đáng.
Cũng về nội dung này, Bộ Tài chính đã có công văn số 7476/BTC-CST ngày 08/6/2015 báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chính sách thuế GTGT đối với gạo, theo đó Bộ Tài chính đề nghị chính sách thuế GTGT đối với gạo thực hiện theo quy định hiện hành. Tại công văn số 4944/VPCP-KTTH ngày 29/6/2015 của VPCP, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý với đề nghị của Bộ Tài chính.
Bô Tài chính trả lời để UBND tỉnh Đồng Tháp được biết và thực hiện theo đúng quy định hiện hành./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn 476/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 528/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cày, bừa, khoan hố do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 554/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng khi mua bán sản phẩm chăn nuôi chưa chế biến do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 1161/TCT-DNL năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động tái bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 13091/BTC-TCT năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với gạo do Bộ Tài chính ban hành
- 1Luật Thuế giá trị gia tăng 2008
- 2Công văn 4944/VPCP-KTTH năm 2015 về thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng gạo, phân bón và thức ăn chăn nuôi do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế sửa đổi 2016
- 4Nghị định 138/2016/NĐ-CP Quy chế làm việc của Chính phủ
- 5Công văn 476/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 528/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cày, bừa, khoan hố do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 554/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng khi mua bán sản phẩm chăn nuôi chưa chế biến do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 1161/TCT-DNL năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động tái bảo hiểm do Tổng cục Thuế ban hành
- 9Công văn 13091/BTC-TCT năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với gạo do Bộ Tài chính ban hành
Công văn 3167/BTC-CST năm 2017 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với gạo do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 3167/BTC-CST
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/03/2017
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Vũ Thị Mai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/03/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
