Tóm tắt Công văn 2656/BCT-CNNg về việc xuất khẩu khoáng sản
Công văn 2656/BCT-CNNg do Bộ Công Thương ban hành là văn bản chỉ đạo và hướng dẫn quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản. Văn bản hướng tới mục tiêu bảo vệ tài nguyên quốc gia, thúc đẩy công nghiệp chế biến sâu và hạn chế thất thoát khoáng sản thô.
1. Định hướng và mục tiêu quản lý xuất khẩu khoáng sản
Bộ Công Thương đưa ra các định hướng rõ ràng nhằm chấn chỉnh hoạt động xuất khẩu khoáng sản của các doanh nghiệp:
- Ưu tiên tối đa nguồn tài nguyên khoáng sản để phục vụ nhu cầu sản xuất, chế biến sâu ở trong nước, bảo đảm an ninh nguyên liệu cho các ngành công nghiệp nội địa.
- Hạn chế và tiến tới dừng xuất khẩu các loại khoáng sản thô, khoáng sản mới chỉ qua sàng tuyển hoặc sơ chế đơn giản có giá trị gia tăng thấp.
- Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, thiết lập trật tự trong hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến và xuất khẩu khoáng sản trên phạm vi cả nước.
2. Điều kiện và tiêu chuẩn đối với khoáng sản xuất khẩu
Doanh nghiệp chỉ được phép xuất khẩu khoáng sản khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt sau:
- Khoáng sản xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, được khai thác từ các mỏ có giấy phép khai thác, giấy phép tận thu còn hiệu lực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép.
- Sản phẩm xuất khẩu phải đạt tiêu chuẩn chất lượng, quy cách kỹ thuật và hàm lượng tối thiểu theo danh mục khoáng sản được phép xuất khẩu do Bộ Công Thương quy định.
- Đối với các loại khoáng sản thuộc diện hạn chế hoặc có điều kiện, doanh nghiệp phải có giấy phép xuất khẩu do Bộ Công Thương hoặc cơ quan được ủy quyền cấp.
3. Thủ tục hành chính và hồ sơ xuất khẩu
Quy trình kiểm soát hồ sơ xuất khẩu tại cửa khẩu được siết chặt nhằm ngăn chặn gian lận thương mại:
- Doanh nghiệp phải xuất trình đầy đủ chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của lô hàng, bao gồm hóa đơn mua bán, chứng từ nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường.
- Phải có phiếu kết quả phân tích mẫu, kiểm định chất lượng và hàm lượng do các tổ chức giám định độc lập có năng lực và được thừa nhận thực hiện.
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về tình hình tồn kho, sản lượng chế biến và xuất khẩu gửi về Sở Công Thương địa phương và Bộ Công Thương.
4. Phân công trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện
Văn bản yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương:
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi khai thác và xuất khẩu khoáng sản trái phép trên địa bàn.
- Sở Công Thương các địa phương chủ trì phối hợp kiểm tra năng lực chế biến thực tế của các doanh nghiệp xuất khẩu khoáng sản tại địa phương.
- Cơ quan Hải quan cửa khẩu chịu trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ hồ sơ lâm sản, khoáng sản xuất khẩu, chỉ cho phép thông quan đối với các lô hàng đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật và pháp lý theo quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2656/BTC-CNNg | Hà Nội, ngày 30 tháng 3 năm 2009 |
Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ
Nhằm điều chỉnh lại hoạt động xuất khẩu khoáng sản theo hướng ưu tiên phục vụ chế biến sâu trong nước, nâng cao tính minh bạch và khắc phục những tồn tại, hạn chế của những quy định cũ, ngày 18 tháng 6 năng 2008 Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 08/2008/TT-BCT hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản. Qua quá trình thực hiện, Thông tư nhận được sự ủng hộ cao của các Bộ, ngành, địa phương và bước đầu đã có tác dụng chấn chỉnh hoạt động xuất khẩu khoáng sản, khuyến khích đầu tư chế biến sâu.
Tuy nhiên, từ cuối năm 2008 đến nay, do tác động của suy thoái kinh tế thế giới cũng như những khó khăn của kinh tế trong nước, giá nguyên liệu, vật tư trong đó có nguyên liệu khoáng và kim loại sụt giảm mạnh (có loại giảm đến trên 60% như kẽm, thiếc...); cộng với khó khăn trong việc vay vốn đầu tư (thiếu nguồn, lãi suất cao...) nên nhiều doanh nghiệp chế biến khoáng sản buộc phải hoạt động cầm chừng do sợ lỗ (như nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên, nhà máy luyện đồng Lào Cai...), không thể tiêu thụ tinh quặng do, các doanh nghiệp khai thác - tuyển quặng sản xuất ra. Hầu hết các dự án chế biến sâu đang đầu tư hoặc chuẩn bị đầu tư (như luyện gang - thép, luyện quặng sắt cầu viên, sản xuất xỉ ti tan, ilmenit hoàn nguyên, pigment, luyện chì, điện phân kẽm...) của các doanh nghiệp chế biến bị chậm hoặc phải lùi tiến độ, rà soát tính toán lại hiệu quả.
Trước tình hình đó, Thủ tướng Chính phủ đã có những quyết sách hết sức kịp thời trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm như: cho phép Tập đoàn công nghiệp Than-khoáng sản Việt Nam xuất khẩu than chất lượng thấp qua khu chuyển tải Vạn Gia và xuất khẩu tinh quặng đồng Lào Cai, cho phép Công ty Apatit Lào Cai xuất khẩu quặng apatit; cho phép tiếp tục xuất khẩu quặng tinh ilmenit, cho phép Công ty liên doanh thép Việt - Trung xuất khẩu quặng sắt v.v... Tuy nhiên, thời gian gần đây, Bộ Công Thương tiếp tục nhận được nhiều công văn của các địa phương và doanh nghiệp xin được xuất khẩu khoáng sản (tinh quặng sắt, tinh quặng chì - kẽm và bột oxyt kẽm, bột barit, mangan...). Lý do chủ yếu của việc xin xuất khẩu là do trong nước chưa có các cơ sở chế biến sâu nên sản phẩm không có đầu ra, doanh nghiệp cần thu hồi vốn để trang trải nợ và duy trì sản xuất, duy trì việc làm cho công nhân.
Qua theo dõi, nắm bắt tình hình, Bộ Công Thương thấy rằng những khó khăn của các doanh nghiệp khai thác - chế biến khoáng sản là thực tế. Phần lớn các doanh nghiệp này lại nằm ở những tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa (nhiều tỉnh trong số đó công nghiệp khoáng sản chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu công nghiệp và nguồn thu) nên khó khăn có phần gay gắt hơn; lao động mất việc làm công khó tìm việc khác hơn. Bản thân các địa phương, doanh nghiệp cũng nhận thức được rằng việc xuất khẩu khoáng sản dưới dạng tinh quặng, với giá thấp và thuế suất xuất khẩu đã điều chỉnh tăng như hiện nay chỉ là giải pháp bất đắc dĩ. Tuy nhiên, nếu cho phép xuất khẩu thì sẽ vướng những quy định của Thông tư số 08/2008/TT-BCT nêu trên.
Cho đến nay, Bộ Công Thương vẫn khẳng định nội dung Thông tư 08/2008/TT-BCT là phù hợp yêu cầu tăng cường quản lý hoạt động xuất khẩu khoảng sản và về lâu dài vẫn cần thiết hạn chế việc xuất khẩu khoáng sản sơ chế. Thông tư 08/2008/TT-BCT còn có tác dụng buộc các doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu, doanh nghiệp sẽ phải quan tâm hơn đến việc liên kết - hợp tác và tính toán kỹ khi quyết định bỏ vốn vào khai thác. Tuy nhiên, với tình hình đặc biệt hiện nay, cần phải có giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Vì vậy, quán triệt tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện các nhóm giải pháp nhằm hạn chế suy thoái, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, Bộ Công Thương kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho phép về nguyên tắc việc tiếp tục xuất khẩu một số loại khoáng sản mà theo Thông tư 08/2008/TT-BCT phải ngừng xuất khẩu từ năm 2009, cụ thể bao gồm: tinh quặng sắt, magnetit, mangan, đồng, chì - kẽm; bột oxyt kẽm, barit, coi đó là giải pháp tình thế và trước mắt chỉ áp dụng cho năm 2009.
Nếu được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, Bộ Công Thương sẽ có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương hữu quan tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện; phối hợp rà soát kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp theo hướng hạn chế sản lượng khai thác, chỉ duy trì ở mức đủ để đảm bảo việc làm và thu nhập tối thiểu người lao động, không đầu tư mở rộng hoặc khai thác mỏ mới nếu chưa có đầu ra, đảm bảo đủ nguyên liệu cho các cơ sở chế biến trong nước; tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác và mua bán quặng trái phép, ngăn chặn gian lận thương mại v.v...
Kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến chỉ đạo./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Công văn số 2781TCHQ/GSQL về việc xuất khẩu khoáng sản do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn số 4969 TCHQ/GSQL của Tổng cục Hải quan về việc thủ tục xuất khẩu khoáng sản
- 3Công văn số 1756/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thủ tục hải quan đối với xuất khẩu khoáng sản
- 4Công văn số 5687/VPCP-CN về việc kiểm tra tình hình khai thác và xuất khẩu khoáng sản trái phép do Văn phòng Chính phủ ban hành.
- 1Công văn số 2781TCHQ/GSQL về việc xuất khẩu khoáng sản do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2Công văn số 4969 TCHQ/GSQL của Tổng cục Hải quan về việc thủ tục xuất khẩu khoáng sản
- 3Công văn số 1756/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thủ tục hải quan đối với xuất khẩu khoáng sản
- 4Công văn số 5687/VPCP-CN về việc kiểm tra tình hình khai thác và xuất khẩu khoáng sản trái phép do Văn phòng Chính phủ ban hành.
- 5Thông tư 08/2008/TT- BCT hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản do Bộ Công thương ban hành
Công văn 2656/BCT-CNNg về việc xuất khẩu khoáng sản do Bộ Công thương ban hành
- Số hiệu: 2656/BCT-CNNg
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/03/2009
- Nơi ban hành: Bộ Công thương
- Người ký: Lê Dương Quang
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/03/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
