Giới thiệu về Công văn 2441/TCT-HTQT năm 2015
Công văn 2441/TCT-HTQT do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Singapore (Hiệp định thuế Việt Nam - Singapore). Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các quy định pháp lý, giúp các doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động kinh doanh, thu nhập liên quan đến cả hai quốc gia thực hiện đúng nghĩa vụ thuế và thụ hưởng các ưu đãi hiệp định một cách hợp pháp.
Phạm vi áp dụng và các điều khoản đầu của Hiệp định (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Dưới đây là tóm tắt chi tiết các nội dung cốt lõi liên quan đến phạm vi áp dụng, các loại thuế được điều chỉnh, định nghĩa chung và xác định đối tượng cư trú theo hướng dẫn của Hiệp định:
1. Đối tượng áp dụng (Điều 1)
- Hiệp định áp dụng đối với các cá nhân và tổ chức là đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước ký kết (Việt Nam và Singapore).
- Xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ thuế của các đối tượng này nhằm tránh việc bị đánh thuế trùng lặp đối với cùng một khoản thu nhập phát sinh tại hai quốc gia.
2. Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định (Điều 2)
- Hiệp định áp dụng đối với các loại thuế đánh vào thu nhập do một Nước ký kết hoặc các cơ quan hành chính địa phương của nước đó ban hành, bất kể hình thức thu thuế như thế nào.
- Tại Việt Nam, các loại thuế áp dụng bao gồm: Thuế thu nhập cá nhân (PIT) và Thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT).
- Tại Singapore, loại thuế áp dụng chủ yếu là Thuế thu nhập (Income Tax).
- Hiệp định cũng sẽ áp dụng đối với các loại thuế có tính chất tương tự hoặc thay thế được ban hành sau ngày ký Hiệp định.
3. Các định nghĩa chung (Điều 3)
- Định nghĩa rõ ràng các thuật ngữ pháp lý cốt lõi như "Việt Nam", "Singapore", "Nước ký kết", "Người", "Công ty", "Xí nghiệp của một Nước ký kết", và "Cơ quan có thẩm quyền".
- Việc thống nhất các định nghĩa này giúp tránh các tranh chấp pháp lý phát sinh từ sự khác biệt trong hệ thống luật pháp nội địa của hai nước trong quá trình thực thi Hiệp định.
4. Đối tượng cư trú (Điều 4)
- Đối tượng cư trú được định nghĩa là bất kỳ người nào, theo các luật của Nước ký kết đó, là đối tượng chịu thuế tại nước đó do có nhà ở, thời gian cư trú, trụ sở điều hành hoặc các tiêu chuẩn khác có tính chất tương tự.
- Trong trường hợp một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai nước, Hiệp định đưa ra các quy tắc phân xử theo thứ tự ưu tiên: nơi cá nhân đó có nhà ở thường trú, nơi có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi sống), nơi thường trú ngụ, hoặc quốc tịch của cá nhân đó.
- Đối với pháp nhân (công ty) là đối tượng cư trú của cả hai nước, pháp nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi có trụ sở điều hành thực tế.
Ý nghĩa và hướng dẫn thực hiện từ Tổng cục Thuế
Công văn 2441/TCT-HTQT nhấn mạnh việc áp dụng đúng các điều khoản từ Điều 1 đến Điều 4 là bước tiên quyết để xác định một đối tượng có đủ điều kiện hưởng các ưu đãi miễn, giảm thuế theo Hiệp định hay không. Người nộp thuế cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ chứng minh tình trạng cư trú (như Giấy chứng nhận cư trú - Certificate of Residence) và các tài liệu liên quan để nộp cho cơ quan thuế Việt Nam khi thực hiện thủ tục áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2441/TCT-HTQT | Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Tổng cục Thuế nhận được các công văn số 975/CT-KTT1 ngày 18/02/2014, công văn số 1667/CT-KTT1 ngày 19/3/2014, công văn số 6029/CT-KTT1 ngày 04/9/2014 của Cục Thuế đề nghị hướng dẫn việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Singapore đối với thu nhập từ việc cung cấp mô đun nén khí cho Dự án khai thác khí Long Quy của Công ty TNHH Global Process Systems Pte - Singapore (Công ty GPS). Trên cơ sở các tài liệu (bản photocopy) do Cục Thuế gửi, Tổng cục Thuế hướng dẫn việc xác định cơ sở thường trú tại Việt Nam đối với Công ty GPS như sau:
Căn cứ thời điểm ký kết Hợp đồng vào ngày 29/6/2009 và thực tế thực hiện hợp đồng tại Việt Nam vào năm 2010, kết thúc tháng 01/2011 thì hoạt động cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và giám sát lắp ráp/lắp đặt, hướng dẫn vận hành, chạy thử, đào tạo tại chỗ của Công ty GPS tại Việt Nam thuộc diện điều chỉnh của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Singapore (Hiệp định) được ký kết vào ngày 02/3/1994 và có hiệu lực kể từ ngày 09/9/1994. Hoạt động cung cấp dịch vụ này không thuộc diện điều chỉnh của Điều 2, Nghị định thư thứ hai điều chỉnh Hiệp định ký ngày 12/9/2012 do hoàn thành trước thời điểm Nghị định thư thứ hai có hiệu lực áp dụng tại Việt Nam là ngày 01/01/2014 (Nghị định thư thứ hai và Thông báo hiệu lực của Nghị định thư thứ hai gửi kèm).
Do đó, căn cứ xem xét nghĩa vụ thuế của Công ty GPS sẽ dựa trên quy định tại Điều 5 và Điều 7 của Hiệp định, cụ thể:
- Khoản 1, Điều 5 - Cơ sở thường trú tại Hiệp định quy định:
“1. Theo Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinh doanh cố định mà qua đó xí nghiệp thực hiện toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của mình.”
- Khoản 1, Điều 7 - Lợi tức doanh nghiệp tại Hiệp định quy định:
“Lợi tức của xí nghiệp tại một Nước ký kết sẽ chỉ chịu thuế tại Nước đó, trừ trường hợp xí nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước kia. Nếu xí nghiệp có hoạt động kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi tức của xí nghiệp có thể bị đánh thuế tại Nước kia, nhưng chỉ trên phần lợi tức phân bổ cho cơ sở thường trú đó”.
Theo các quy định trên, Công ty GPS sẽ chỉ phải nộp thuế tại Việt Nam trong trường hợp Công ty có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam thông qua một cơ sở thường trú.
Căn cứ quy định tại khoản 1, Điều 5, một cơ sở thường trú bao gồm những điều kiện sau:
- Sự tồn tại của một “cơ sở kinh doanh”;
- Cơ sở kinh doanh có tính chất “cố định”;
- Việc tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua cơ sở kinh doanh cố định này.
1. Đối với điều kiện về “cơ sở kinh doanh”
Theo Hiệp định, cơ sở kinh doanh không nhất thiết phải là một cơ sở kinh doanh hoàn chỉnh như tòa nhà, văn phòng với bộ máy quản lý. Một cơ sở kinh doanh có thể tồn tại ngay cả khi không có hay không cần có một tòa nhà nào để tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khi địa điểm đó chỉ đơn giản là một phương tiện, máy móc hay thiết bị hoặc thậm chí đơn thuần là một không gian nhất định để doanh nghiệp sử dụng.
Theo ý nghĩa trên, trong trường hợp này, khu vực mô đun nén khí được lắp đặt tại khu vực hoạt động tại vùng biển Vũng Tàu đã hình thành một cơ sở kinh doanh của Công ty GPS tại Việt Nam.
2. Đối với điều kiện về “tính cố định” của cơ sở kinh doanh
Mô đun nén khí được lắp đặt và hoạt động tại khu vực hoạt động tại Rồng dầu ngoài khơi Vũng Tàu của Việt Nam, tức là cơ sở kinh doanh này gắn với một địa điểm cụ thể và do đó mang tính chất cố định.
3. Đối với điều kiện về “tiến hành hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở kinh doanh cố định này”
Việc thực hiện toàn bộ các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và giám sát lắp ráp/lắp đặt, hướng dẫn vận hành, chạy thử nêu tại Hợp đồng được tiến hành tại nơi mô đun nén khí được lắp đặt tại khu vực hoạt động tại Việt Nam trong thời gian thực hiện hợp đồng. Như vậy việc cung cấp dịch vụ chính là tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Ngoài ra, việc đào tạo tại chỗ ở Việt Nam được quy định tại Hợp đồng phải được thực hiện tại một cơ sở kinh doanh cố định tại Việt Nam.
Căn cứ vào 03 điều kiện trên và từ thực tế việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, giám sát lắp ráp/lắp đặt, hướng dẫn vận hành, chạy thử, đào tạo tại chỗ trong khuôn khổ Hợp đồng đã tạo nên một cơ sở thường trú của Công ty GPS tại Việt Nam.
Căn cứ quy định nêu trên, Tổng cục Thuế thống nhất với ý kiến Cục Thuế về việc Công ty GPS có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập tại Việt Nam. Đề nghị Cục thuế hướng dẫn công ty GPS thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan và hướng dẫn tại công văn này./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 1308/TCT-HTQT về áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Singapore đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 326/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Singapore do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 2357/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thái Lan do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Quyết định 453/QĐ-CT năm 2017 phê duyệt Điều lệ và công nhận chức danh Hội Hữu nghị Việt Nam - Singapore thành phố Hải Phòng
- 5Công văn 3402/TCT-HTQT năm 2019 về hướng dẫn áp dụng Hiệp định thuế Việt Nam - Singapore do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Xing-ga-po
- 2Công văn 1308/TCT-HTQT về áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Singapore đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 326/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Singapore do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 2357/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Thái Lan do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Quyết định 453/QĐ-CT năm 2017 phê duyệt Điều lệ và công nhận chức danh Hội Hữu nghị Việt Nam - Singapore thành phố Hải Phòng
- 6Công văn 3402/TCT-HTQT năm 2019 về hướng dẫn áp dụng Hiệp định thuế Việt Nam - Singapore do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 2441/TCT-HTQT năm 2015 áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam và Singapore do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2441/TCT-HTQT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/06/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Cao Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/06/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
