Giới thiệu chung về Công văn 230/CTLAN-TTHT năm 2024
Công văn 230/CTLAN-TTHT do Cục Thuế tỉnh Long An ban hành năm 2024 là văn bản hướng dẫn quan trọng dành cho các doanh nghiệp và người nộp thuế về việc xác định tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Đây là cơ sở pháp lý để doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Quy định về điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt
Theo hướng dẫn của Cục Thuế tỉnh Long An, để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN đối với các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT), doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Các quy định cốt lõi bao gồm:
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng: Được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
- Tài khoản giao dịch: Tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo đúng quy định pháp luật.
- Sự trùng khớp thông tin: Tên tài khoản, số tài khoản và thông tin chuyển khoản trên chứng từ ngân hàng phải trùng khớp với thông tin của bên mua và bên bán thể hiện trên hợp đồng kinh tế và hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ.
Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác được thừa nhận
Bên cạnh hình thức chuyển khoản trực tiếp từ tài khoản người mua sang tài khoản người bán, văn bản cũng làm rõ các hình thức thanh toán khác được coi là thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí được trừ, bao gồm:
- Bù trừ công nợ: Phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, hoặc bù trừ công nợ qua bên thứ ba. Trường hợp này phải được quy định rõ trong hợp đồng mua bán và có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan.
- Thanh toán ủy quyền: Trường hợp thanh toán qua bên thứ ba được ủy quyền bằng văn bản hợp pháp hoặc được quy định cụ thể trong điều khoản của hợp đồng kinh tế ban đầu.
- Thanh toán bằng thẻ tín dụng doanh nghiệp: Việc cá nhân được ủy quyền sử dụng thẻ tín dụng của doanh nghiệp để thanh toán cho người bán, sau đó doanh nghiệp thanh toán lại cho cá nhân qua ngân hàng cũng được chấp nhận là chứng từ thanh toán hợp lệ nếu có đầy đủ hồ sơ, hóa đơn và quy chế tài chính của doanh nghiệp.
Khuyến nghị và lưu ý quan trọng cho doanh nghiệp
Để tránh rủi ro bị xuất toán chi phí hoặc bị từ chối khấu trừ thuế GTGT đầu vào, doanh nghiệp cần lưu ý các điểm sau:
- Kiểm tra kỹ thông tin tài khoản: Trước khi thực hiện giao dịch chuyển tiền, doanh nghiệp cần xác thực thông tin tài khoản của nhà cung cấp để đảm bảo tiền được chuyển đúng đối tượng thụ hưởng hợp pháp.
- Lưu trữ hồ sơ đầy đủ: Doanh nghiệp phải lưu trữ đầy đủ chứng từ chuyển tiền của ngân hàng (như giấy báo Nợ, ủy nhiệm chi, sổ phụ ngân hàng) kèm theo hóa đơn, hợp đồng để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
- Xử lý kịp thời sai sót: Trong trường hợp có sai sót về thông tin chuyển khoản hoặc tài khoản, doanh nghiệp cần chủ động liên hệ với ngân hàng và đối tác để lập biên bản điều chỉnh hoặc thực hiện các thủ tục khắc phục theo đúng quy định pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 230/CTLAN-TTHT | Long An, ngày 17 tháng 01 năm 2024 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH thép Ngọc Minh; |
Trả lời văn bản số 20.12/CV ngày 21/12/2023 của Công ty TNHH thép Ngọc Minh (gọi tắt là Công ty) về việc ủy quyền thanh toán công nợ đối với hàng hóa xuất khẩu. Cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế GTGT:
+ Tại Điều 16 quy định điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu.
“Điều 16. Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu
Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (trừ các trường hợp hướng dẫn Điều 17 Thông tư này) để được khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT đầu vào phải có đủ điều kiện và các thủ tục nêu tại khoản 2 Điều 9 và khoản 1 Điều 15 Thông tư này, cụ thể như sau:
1. Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa
…
2. Tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu đã làm xong thủ tục hải quan
…
3. Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng
a) Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ tài khoản của bên nhập khẩu sang tài khoản mang tên bên xuất khẩu mở tại ngân hàng theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu. Trường hợp thanh toán chậm trả, phải có thỏa thuận ghi trong hợp đồng xuất khẩu, đến thời hạn thanh toán cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Trường hợp ủy thác xuất khẩu thì phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của phía nước ngoài cho bên nhận ủy thác và bên nhận ủy thác phải thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng cho bên ủy thác. Trường hợp bên nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác xuất khẩu thì bên ủy thác phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và việc thanh toán như trên phải được quy định trong hợp đồng.
b) Các trường hợp thanh toán dưới đây cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng:
…
b.3) Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán thì việc thanh toán theo ủy quyền phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng - nếu có).
…”
+ Tại Điều 17 quy định điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào đối với một số trường hợp hàng hóa được coi như xuất khẩu.
“Điều 17. Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào đối với một số trường hợp hàng hóa được coi như xuất khẩu
1. Hàng hóa gia công chuyển tiếp theo quy định của pháp luật thương mại về hoạt động mua, bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công hàng hóa với nước ngoài:
a) Hợp đồng gia công xuất khẩu và các phụ kiện hợp đồng (nếu có) ký với nước ngoài, trong đó ghi rõ cơ sở nhận hàng tại Việt Nam.
b) Hóa đơn GTGT ghi rõ giá gia công và số lượng hàng gia công trả nước ngoài (theo giá quy định trong hợp đồng ký với nước ngoài) và tên cơ sở nhận hàng theo chỉ định của phía nước ngoài.
c) Phiếu chuyển giao sản phẩm gia công chuyển tiếp (gọi tắt là Phiếu chuyển tiếp) có đủ xác nhận của bên giao, bên nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và xác nhận của Hải quan quản lý hợp đồng gia công của bên giao, bên nhận.
d) Hàng hóa gia công cho nước ngoài phải thanh toán qua Ngân hàng theo hướng dẫn tại Điều 16 Thông tư này.
…
Các trường hợp cơ sở kinh doanh có hàng hóa xuất khẩu hoặc hàng hóa được coi như xuất khẩu hướng dẫn tại Điều 16, Điều 17 Thông tư này nếu đã có xác nhận của cơ quan Hải quan (đối với hàng hóa xuất khẩu) nhưng không có đủ các thủ tục, hồ sơ khác đối với từng trường hợp cụ thể thì không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Riêng đối với trường hợp hàng hóa gia công chuyển tiếp và hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, nếu không có đủ một trong các thủ tục, hồ sơ theo quy định thì phải tính và nộp thuế GTGT như hàng hóa tiêu thụ nội địa. Đối với cơ sở kinh doanh có dịch vụ xuất khẩu nếu không đáp ứng điều kiện về thanh toán qua ngân hàng hoặc được coi như thanh toán qua ngân hàng thì không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế đầu vào.”
Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty xuất khẩu hàng hóa cho khách hàng nước ngoài. Khách hàng ủy quyền cho bên thứ ba là cá nhân tại Việt Nam có tài khoản tại Việt Nam thanh toán cho Công ty được thỏa thuận tại phụ lục hợp đồng thì hình thức thanh toán này chưa phù hợp theo quy định tại Điều 16 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
Trường hợp Công ty xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài có chứng từ thanh toán qua ngân hàng nhưng không đúng quy định thì không phải tính thuế GTGT đầu ra nhưng không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định tại Điều 17 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính.
Công ty căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị, đối chiếu với các quy định tại văn bản pháp luật nêu trên để thực hiện đúng quy định.
Cục Thuế trả lời cho Công ty được biết và thực hiện theo đúng quy định tại văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 110280/CTHN-TTHT năm 2020 về thanh toán bù trừ công nợ với bên thứ ba do Cục Thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 2Công văn 29277/CTHN-TTHT năm 2024 hướng dẫn thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu do Cục Thuế Thành phố Hà Nội ban hành
- 3Công văn 42268/CTHN-TTHT năm 2024 hướng dẫn thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu do Cục Thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 1Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 110280/CTHN-TTHT năm 2020 về thanh toán bù trừ công nợ với bên thứ ba do Cục Thuế thành phố Hà Nội ban hành
- 3Công văn 29277/CTHN-TTHT năm 2024 hướng dẫn thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu do Cục Thuế Thành phố Hà Nội ban hành
- 4Công văn 42268/CTHN-TTHT năm 2024 hướng dẫn thuế suất đối với hàng hóa xuất khẩu do Cục Thuế thành phố Hà Nội ban hành
Công văn 230/CTLAN-TTHT năm 2024 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Cục Thuế tỉnh Long An ban hành
- Số hiệu: 230/CTLAN-TTHT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/01/2024
- Nơi ban hành: Tỉnh Long An
- Người ký: Trần Thị Thu Vân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/01/2024
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
