Công văn 1608/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với khoản trợ cấp mất việc làm chi trả cho người lao động. Văn bản này giúp làm rõ ranh giới giữa thu nhập được miễn thuế và thu nhập chịu thuế, đồng thời hướng dẫn chi tiết phương thức khấu trừ thuế đối với các khoản chi trả vượt định mức theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Quy định về miễn thuế thu nhập cá nhân đối với trợ cấp mất việc làm
- Khoản trợ cấp mất việc làm được chi trả đúng theo quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ thuộc đối tượng được miễn thuế TNCN.
- Mức trợ cấp mất việc làm được miễn thuế được xác định căn cứ vào thời gian làm việc thực tế của người lao động tại doanh nghiệp và mức lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi mất việc.
- Các khoản trợ cấp này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của người lao động khi quyết toán thuế.
- Hướng dẫn khấu trừ thuế đối với khoản chi vượt mức quy định
- Trường hợp doanh nghiệp chi trả khoản trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của Bộ luật Lao động (khoản chi thêm, hỗ trợ thêm ngoài luật), phần vượt mức này phải chịu thuế TNCN theo quy định.
- Nếu khoản chi trả vượt mức được thực hiện trong thời gian người lao động vẫn đang trong thời hạn hợp đồng lao động, doanh nghiệp thực hiện cộng gộp vào thu nhập từ tiền lương, tiền công để tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
- Nếu khoản chi trả vượt mức được thực hiện sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên tổng mức chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả.
- Trách nhiệm của tổ chức chi trả và người lao động
- Doanh nghiệp có trách nhiệm xác định rõ phần trợ cấp đúng quy định pháp luật lao động (miễn thuế) và phần trợ cấp tự nguyện chi thêm (chịu thuế) để thực hiện kê khai, khấu trừ chính xác.
- Người lao động có nghĩa vụ phối hợp cung cấp thông tin và thực hiện quyết toán thuế đối với phần thu nhập chịu thuế phát sinh từ khoản hỗ trợ thêm này theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Tóm lại, Công văn 1608/TCT-TNCN tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động khi mất việc làm, đồng thời chống thất thu thuế đối với các khoản thu nhập ngoài luồng có tính chất tiền lương, tiền công.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1608/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2010 |
Kính gửi: Văn phòng đại diện Ngân hàng thương mại Taipei Fubon tại Hà Nội
Trả lời công văn số FB/0904 ngày 14/4/2010 Văn phòng đại diện Ngân hàng thương mại Taipei Fubon tại Hà Nội về việc thuế thu nhập cá nhân đối với Khoản trợ cấp mất việc làm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Điều 17 Bộ luật lao động: “Trong trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ một năm trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm việc mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng bằng hai tháng lương”.
Theo hướng dẫn tại tiết đ, Điểm 2.2.4, Khoản 2, Mục II, phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính thì các Khoản phụ cấp, trợ cấp được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công bao gồm:
“2.2.4. Các Khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ luật lao động:
…………………
d) Các Khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp.”
Theo các quy định nêu trên nếu Chi nhánh Ngân hàng Chinfon trả trợ cấp mất việc làm theo đúng quy định của Bộ luật Lao động cho các nhân viên của Chi nhánh Ngân hàng thì Khoản trợ cấp mất việc làm được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công. Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm được thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm 2, Điều 1 Thông tư số 39/2009/TT-BLĐTBXH ngày 18/11/2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật Lao động.
Trường hợp Chi nhánh Ngân hàng Chinfon trả trợ cấp mất việc làm cho các nhân viên này cao hơn mức quy định của Bộ luật Lao động thì phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân.
Tổng cục Thuế thông báo để Văn phòng đại diện ngân hàng Taipei Fubon tại Hà Nội được biết và liên hệ với cơ quan thuế địa phương để được giải thích cụ thể./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Bộ luật Lao động 1994
- 2Nghị định 39/2003/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm
- 3Thông tư 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân do Bộ Tài chính ban hành
- 4Thông tư 39/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Điều 12 Nghị định 39/2003/NĐ-CP hướng dẫn Bộ Luật lao động về việc làm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 5Công văn 1987/VPCP-KGVX năm 2018 về Công ty KL Texwell Vina đóng cửa, hàng ngàn công nhân không có việc làm do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 6Công văn 2093/TCT-TCCB năm 2024 xây dựng vị trí việc làm tại Tổng cục Thuế
Công văn 1608/TCT-TNCN về thuế thu nhập cá nhân đối với trợ cấp mất việc làm do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1608/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 14/05/2010
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/05/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
