Công văn 1524/TCT-DNNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với khoản tiền lương phát sinh khi người lao động làm việc vào những ngày nghỉ phép năm chưa nghỉ. Dưới đây là tóm tắt chi tiết các nội dung cốt lõi của văn bản này.
1. Quy định về thuế TNCN đối với tiền lương làm việc vào ngày nghỉ phép
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế dựa trên các quy định của Bộ luật Lao động và Luật Thuế thu nhập cá nhân, khoản tiền lương mà người lao động nhận được do làm việc vào ngày nghỉ phép năm được phân tách thành hai phần để áp dụng chính sách thuế khác nhau:
- Phần thu nhập chịu thuế TNCN: Phần tiền lương trả cho ngày nghỉ phép năm tính theo mức lương ngày làm việc bình thường là khoản thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế đối với phần thu nhập này trước khi chi trả cho người lao động.
- Phần thu nhập được miễn thuế TNCN: Trường hợp người lao động làm việc vào ngày nghỉ phép năm và được người sử dụng lao động trả lương cao hơn so với mức lương ngày làm việc bình thường (tiền lương làm thêm giờ), thì phần tiền lương trả cao hơn (phần chênh lệch vượt trội) được miễn thuế TNCN theo quy định pháp luật.
2. Nguyên tắc xác định phần thu nhập được miễn thuế
Để áp dụng chính sách miễn thuế TNCN đối với phần tiền lương làm việc vào ngày nghỉ phép năm, doanh nghiệp và người lao động cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Phần thu nhập được miễn thuế được xác định bằng phần chênh lệch giữa tiền lương thực tế chi trả cho ngày làm việc vào ngày nghỉ phép so với tiền lương tính theo ngày làm việc bình thường.
- Người sử dụng lao động phải xây dựng và lưu trữ đầy đủ hồ sơ chứng minh, bao gồm: bảng kê phản ánh rõ ngày làm việc, số giờ làm việc vào ngày nghỉ phép, mức lương làm thêm giờ và phần thu nhập chênh lệch được miễn thuế.
- Các khoản chi trả này phải được quy định cụ thể trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế tài chính, quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị.
3. Trường hợp thanh toán tiền phép năm khi chấm dứt hợp đồng lao động
Đối với trường hợp người lao động thôi việc, mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm và được người sử dụng lao động thanh toán bằng tiền cho những ngày chưa nghỉ:
- Khoản tiền thanh toán cho những ngày phép chưa nghỉ này được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động.
- Khoản thu nhập này không được áp dụng quy định miễn thuế đối với phần chênh lệch làm thêm giờ, mà phải tính gộp vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công để thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1524/TCT-DNNCN | Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2020 |
Kính gửi: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 4238/NHNo-TCKT ngày 24/5/2019 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đề nghị hướng dẫn xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công những ngày không nghỉ phép. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 1 Điều 111 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về ngày nghỉ hàng năm như sau:
“Điều 111. Nghỉ hằng năm
1. Người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
b) 14 ngày làm việc đối với người làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành hoặc lao động chưa thành niên hoặc lao động là người khuyết tật;
c) 16 ngày làm việc đối với người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc người làm việc ở những nơi có điều kiện sinh sống đặc biệt khắc nghiệt theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.”
Tại Khoản 1 Điều 114 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về việc thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ phép như sau:
“Điều 114. Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ
1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.”
Tại điểm a Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản thu nhập chịu thuế như sau:
“2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền.”
Căn cứ điểm i Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn các khoản thu nhập được miễn thuế như sau:
“i) Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động. Cụ thể như sau:
i.1) Phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do phải làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế căn cứ vào tiền lương, tiền công thực trả do phải làm đêm, thêm giờ trừ (-) đi mức tiền lương, tiền công tính theo ngày làm việc bình thường.
...
i.2) Tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải lập bảng kê phản ánh rõ thời gian làm đêm, làm thêm giờ, khoản tiền lương trả thêm do làm đêm, làm thêm giờ đã trả cho người lao động. Bảng kê này được lưu tại đơn vị trả thu nhập và xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan thuế.”
Tại công văn số 64/QHLĐTL-TL ngày 21/02/2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến về ngày chưa nghỉ phép hàng năm như sau: trường hợp người sử dụng lao động đã quy định lịch nghỉ hàng năm theo quy định tại Khoản 2 Điều 111 Bộ luật Lao động, nhưng vì một lý do nào đó người sử dụng lao động yêu cầu người lao động đi làm vào những ngày nghỉ hàng năm thì thời gian này là thời gian làm thêm giờ.
Căn cứ quy định hiện hành và ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trường hợp Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu người lao động làm việc vào ngày nghỉ phép hàng năm và thanh toán tiền lương cho những ngày này theo hình thức làm thêm giờ thì phần thu nhập trả cao hơn so với tiền lương ngày làm việc bình thường theo quy định của Bộ luật Lao động là thu nhập miễn thuế thu nhập cá nhân theo hướng dẫn tại điểm i Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Thuế thông báo để Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam được biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 2812/TCT-TNCN vướng mắc về quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương tiền công khi sáp nhập hai đơn vị trong cùng một Tổng công ty do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 1783/TCT-TNCN năm 2016 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương dạy thêm giờ do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 4641/TCT-DNNCN năm 2019 về thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 1601/TCT-DNNCN năm 2020 hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Công văn 2812/TCT-TNCN vướng mắc về quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương tiền công khi sáp nhập hai đơn vị trong cùng một Tổng công ty do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Bộ Luật lao động 2012
- 3Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 4Công văn 1783/TCT-TNCN năm 2016 về chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương dạy thêm giờ do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 4641/TCT-DNNCN năm 2019 về thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 1601/TCT-DNNCN năm 2020 hướng dẫn về thuế thu nhập cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 1524/TCT-DNNCN năm 2020 về thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương do làm việc ngày nghỉ phép do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 1524/TCT-DNNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 17/04/2020
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thế Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 17/04/2020
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
