Hệ thống pháp luật
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...
Đang tải nội dung, vui lòng chờ giây lát...

BỘ TÀI CHÍNH
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 08 TC/CSTC
V/v Thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2000

 

Kính gửi:

Công ty Kiểm toán quốc tế KPMG
Số 256, phố Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Tp. Hà Nội

Về công văn ngày 4/01/2000 của Công ty hỏi về vấn đề thuế đối với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1. Về thuế thu nhập doanh nghiệp:

Căn cứ Khoản 3, Điều 1 Nghị định số 12/CP ngày 18/02/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không thuộc hình thức đầu tư nước ngoài. Do vậy, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam có nghĩa vụ nộp thuế TNDN như các cơ sở kinh doanh trong nước, với thuế suất 32% trên phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam và nếu có thu nhập cao hơn lợi thế khách quan mang lại thì phải nộp thuế thu nhập bổ sung với thuế suất 25% trên phần thu nhập do lợi thế khách quan mang lại; chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không phải nộp thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

2. Về chi phí quản lý kinh doanh của ngân hàng nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú (chi nhánh ngân hàng) tại Việt Nam:

Căn cứ tiết n, Khoản 1, Điều 9 của Luật thuế TNDNKhoản 13, Điều 4 Nghị định số 30/1998/NĐ-CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ, khoản chi phí quản lý kinh doanh của ngân hàng nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú được coi là chi phí để xác định thu nhập chịu thuế. Cách xác định khoản chi này và những tài liệu cần thiết để khẳng định được hướng dẫn cụ thể tại điểm 13, Mục III, Phần B và điểm 7, Phần D Thông tư số 99/1998/TT-BTC ngày 14/7/1998 của Bộ Tài chính.

Bộ Tài chính thông báo để công ty được biết./.

 

 

TL. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH




Đặng Văn Thanh