TÓM TẮT TOÀN DIỆN CÔNG ƯỚC CHỐNG TRA TẤN VÀ CÁC HÌNH THỨC TRƯNG PHẠT HAY ĐỐI XỬ TÀN ÁC, VÔ NHÂN ĐẠO HOẶC HẠ THẤP NHÂN PHẨM (1984)
Công ước chống tra tấn năm 1984 là một trong những điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người của Liên Hợp Quốc, thiết lập một khuôn khổ pháp lý toàn cầu nhằm xóa bỏ hoàn toàn hành vi tra tấn và các hình thức đối xử tàn ác khác. Dưới đây là phân tích chi tiết và hệ thống hóa toàn bộ nội dung của Công ước theo từng phần và điều khoản cụ thể.
PHẦN I: ĐỊNH NGHĨA VÀ CÁC NGHĨA VỤ PHÁP LÝ CỦA QUỐC GIA THÀNH VIÊN (ĐIỀU 1 - ĐIỀU 16)
Phần này quy định các định nghĩa nền tảng, nguyên tắc cấm tuyệt đối và các nghĩa vụ hành động cụ thể mà mỗi quốc gia thành viên phải thực thi trong phạm vi quyền tài phán của mình.
- Định nghĩa pháp lý về "Tra tấn" (Điều 1): Tra tấn được định nghĩa là hành vi cố ý gây đau đớn hoặc đau khổ nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần cho một người nhằm mục đích lấy thông tin, lời thú tội, trừng phạt, đe dọa, ép buộc hoặc vì lý do phân biệt đối xử. Hành vi này phải do công chức hoặc người hành động với tư cách chính thức thực hiện, xúi giục, đồng tình hoặc ưng thuận. Định nghĩa này loại trừ những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ hoặc gắn liền với các biện pháp trừng phạt hợp pháp.
- Nguyên tắc cấm tuyệt đối và không có ngoại lệ (Điều 2): Các quốc gia phải áp dụng mọi biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp hiệu quả để ngăn chặn tra tấn. Công ước khẳng định tính tuyệt đối của lệnh cấm: không một hoàn cảnh ngoại lệ nào (chiến tranh, đe dọa chiến tranh, bất ổn chính trị, tình trạng khẩn cấp) và không một mệnh lệnh nào của cấp trên được viện dẫn để biện minh cho hành vi tra tấn.
- Nguyên tắc không đẩy trả - Non-refoulement (Điều 3): Nghiêm cấm các quốc gia thành viên trục xuất, đẩy trả hoặc dẫn độ một người sang quốc gia khác nếu có lý do thực tế để tin rằng người đó có nguy cơ bị tra tấn. Khi xác định nguy cơ này, cơ quan thẩm quyền phải xem xét toàn diện các yếu tố, bao gồm sự tồn tại của tình trạng vi phạm quyền con người thô bạo, phổ biến tại quốc gia tiếp nhận.
- Hình sự hóa hành vi tra tấn (Điều 4): Quốc gia thành viên phải bảo đảm mọi hành vi tra tấn, cố gắng thực hiện tra tấn, đồng khỏa hoặc tham gia tra tấn đều cấu thành tội phạm theo luật hình sự quốc gia và phải bị trừng trị bằng các hình phạt nghiêm khắc, tương ứng với tính chất nghiêm trọng của tội phạm.
- Xác lập quyền tài phán toàn cầu (Điều 5): Quốc gia thành viên phải thiết lập quyền tài phán đối với tội tra tấn trong các trường hợp: xảy ra trên lãnh thổ thuộc quyền tài phán (hoặc trên tàu thủy, máy bay đăng ký tại nước mình); người bị tình nghi là công dân nước mình; nạn nhân là công dân nước mình (nếu quốc gia thấy thích đáng). Đặc biệt, quốc gia phải xác lập quyền tài phán khi nghi phạm đang có mặt trên lãnh thổ của mình mà nước đó không tiến hành dẫn độ nghi phạm sang quốc gia khác.
- Biện pháp ngăn chặn và quyền của người bị giam giữ (Điều 6): Khi phát hiện nghi phạm trên lãnh thổ, quốc gia thành viên phải bắt giam hoặc áp dụng các biện pháp pháp lý cần thiết để bảo đảm sự hiện diện của người đó phục vụ tố tụng hoặc dẫn độ. Nghi phạm phải được tạo điều kiện liên hệ ngay với đại diện ngoại giao của quốc gia họ mang quốc tịch (hoặc quốc gia nơi thường trú nếu là người không quốc tịch).
- Nguyên tắc dẫn độ hoặc truy tố - Aut Dedere Aut Judicare (Điều 7): Nếu không dẫn độ nghi phạm, quốc gia thành viên bắt buộc phải chuyển vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền để truy tố. Tiêu chuẩn về chứng cứ và thủ tục tố tụng phải nghiêm ngặt như đối với các tội phạm nghiêm trọng thông thường khác. Nghi phạm được bảo đảm đối xử công bằng trong mọi giai đoạn tố tụng.
- Cơ chế dẫn độ (Điều 8): Tội tra tấn mặc nhiên được coi là tội có thể dẫn độ trong các hiệp ước dẫn độ hiện có và tương lai giữa các quốc gia thành viên. Công ước này có thể được sử dụng làm cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ nếu giữa các nước liên quan chưa ký kết hiệp ước dẫn độ song phương.
- Tương trợ tư pháp (Điều 9): Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hỗ trợ lẫn nhau tối đa trong các thủ tục tố tụng hình sự liên quan đến tội tra tấn, bao gồm việc cung cấp các bằng chứng cần thiết.
- Giáo dục và đào tạo bắt buộc (Điều 10): Nội dung nghiêm cấm tra tấn phải được đưa đầy đủ vào chương trình đào tạo lực lượng thực thi pháp luật, nhân viên dân sự, quân sự, y tế, công chức và những người tham gia vào việc giam giữ, thẩm vấn hoặc đối xử với người bị bắt giữ.
- Rà soát quy trình thẩm vấn và giam giữ (Điều 11): Các quốc gia phải thường xuyên rà soát một cách có hệ thống các quy tắc, hướng dẫn, phương pháp thẩm vấn cũng như cơ chế giam giữ, đối xử với người bị giam giữ nhằm ngăn chặn mọi nguy cơ tra tấn trên thực tế.
- Nghĩa vụ điều tra khẩn trương và khách quan (Điều 12): Cơ quan thẩm quyền phải tiến hành điều tra nhanh chóng và khách quan bất cứ khi nào có cơ sở hợp lý để tin rằng hành vi tra tấn đã xảy ra trong vùng tài phán của mình.
- Quyền khiếu nại và bảo vệ nhân chứng (Điều 13): Đảm bảo mọi cá nhân cho rằng mình bị tra tấn đều có quyền khiếu nại và được cơ quan thẩm quyền xem xét khẩn trương. Người khiếu nại và nhân chứng phải được bảo vệ hiệu quả khỏi sự ngược đãi hoặc đe dọa do hậu quả của việc khiếu nại hoặc cung cấp bằng chứng.
- Quyền được bồi thường và phục hồi (Điều 14): Hệ thống pháp luật quốc gia phải bảo đảm nạn nhân của hành vi tra tấn được cứu chữa, phục hồi đầy đủ và nhận bồi thường công bằng, thỏa đáng. Trường hợp nạn nhân tử vong do bị tra tấn, những người phụ thuộc có quyền hưởng bồi thường.
- Nguyên tắc loại trừ chứng cứ thu được do tra tấn (Điều 15): Mọi phát ngôn, lời khai là kết quả của sự tra tấn tuyệt đối không được sử dụng làm bằng chứng trong bất kỳ quá trình tố tụng nào, trừ khi dùng để chống lại chính kẻ bị cáo buộc thực hiện hành vi tra tấn để có lời khai đó.
- Ngăn ngừa các hình thức đối xử tàn ác khác (Điều 16): Các quốc gia thành viên cam kết ngăn ngừa các hành vi đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm khác (chưa đến mức cấu thành tra tấn theo Điều 1) do công chức thực hiện hoặc đồng tình. Các nghĩa vụ về giáo dục, rà soát thẩm vấn, điều tra và khiếu nại cũng được áp dụng tương tự đối với các hành vi này.
PHẦN II: ỦY BAN CHỐNG TRA TẤN - CƠ CHẾ GIÁM SÁT VÀ THỰC THI (ĐIỀU 17 - ĐIỀU 24)
Phần này thiết lập Ủy ban chống tra tấn (Ủy ban) và quy định chi tiết về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền cũng như các cơ chế giám sát việc thực hiện Công ước của các quốc gia thành viên.
- Thành lập và cơ cấu tổ chức của Ủy ban (Điều 17 - Điều 18):
- Ủy ban gồm 10 chuyên gia có đạo đức cao và năng lực được thừa nhận trong lĩnh vực quyền con người, hoạt động với tư cách cá nhân. Các thành viên do các quốc gia thành viên bầu bằng bỏ phiếu kín với nhiệm kỳ 4 năm (có thể được bầu lại).
- Ủy ban tự bầu ra các quan chức với nhiệm kỳ 2 năm, tự xây dựng quy tắc thủ tục (quyết định theo đa số, cuộc họp hợp lệ khi có ít nhất 6 thành viên tham gia). Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cung cấp nhân sự và phương tiện hoạt động, chi phí do các quốc gia thành viên chi trả.
- Nghĩa vụ báo cáo định kỳ (Điều 19): Các quốc gia thành viên phải trình báo cáo về các biện pháp thực hiện Công ước trong vòng 1 năm sau khi Công ước có hiệu lực đối với mình, và sau đó định kỳ 4 năm một lần hoặc khi Ủy ban yêu cầu. Ủy ban xem xét báo cáo, đưa ra nhận xét và gửi cho quốc gia liên quan để phản hồi.
- Thủ tục điều tra bảo mật (Điều 20): Nếu nhận được thông tin đáng tin cậy về việc tra tấn được tiến hành có hệ thống tại một quốc gia thành viên, Ủy ban sẽ mời quốc gia đó hợp tác kiểm tra thông tin. Ủy ban có thể cử ủy viên tiến hành điều tra kín, khẩn trương (có thể bao gồm chuyến thăm lãnh thổ nếu được quốc gia đó đồng ý) và gửi khuyến nghị cho quốc gia thành viên.
- Cơ chế khiếu nại giữa các quốc gia (Điều 21): Quốc gia thành viên có thể tuyên bố công nhận thẩm quyền của Ủy ban trong việc tiếp nhận và xem xét các khiếu nại từ một quốc gia thành viên khác về việc không thực hiện nghĩa vụ theo Công ước. Cơ chế này chỉ áp dụng giữa các quốc gia đã đưa ra tuyên bố công nhận tương tự.
- Cơ chế khiếu nại từ cá nhân (Điều 22): Quốc gia thành viên có thể tuyên bố công nhận thẩm quyền của Ủy ban trong việc tiếp nhận và xem xét khiếu nại từ các cá nhân (hoặc đại diện của họ) thuộc quyền tài phán của mình về việc bị quốc gia đó vi phạm các điều khoản của Công ước. Cá nhân phải vận dụng hết các biện pháp pháp lý sẵn có trong nước trước khi khiếu nại lên Ủy ban.
- Ưu đãi, miễn trừ và báo cáo thường niên (Điều 23 - Điều 24): Các thành viên Ủy ban được hưởng các đặc quyền, ưu đãi và miễn trừ dành cho chuyên gia thực thi nhiệm vụ của Liên Hợp Quốc. Ủy ban có nghĩa vụ trình báo cáo thường niên về hoạt động của mình cho các quốc gia thành viên và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
PHẦN III: CÁC ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH VÀ THỦ TỤC CUỐI CÙNG (ĐIỀU 25 - ĐIỀU 33)
Phần này quy định các thủ tục pháp lý quốc tế về việc ký kết, phê chuẩn, gia nhập, sửa đổi, giải quyết tranh chấp và bãi ước.
- Ký, phê chuẩn và gia nhập (Điều 25 - Điều 26): Công ước để ngỏ cho tất cả các quốc gia ký, phê chuẩn hoặc gia nhập thông qua việc nộp lưu chiểu văn kiện cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
- Hiệu lực của Công ước (Điều 27): Công ước có hiệu lực vào ngày thứ 30 sau ngày văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập thứ 20 được nộp lưu chiểu. Đối với các quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập sau đó, Công ước có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày nộp văn kiện của họ.
- Bảo lưu thẩm quyền điều tra (Điều 28): Quốc gia thành viên có thể tuyên bố không công nhận thẩm quyền điều tra của Ủy ban theo Điều 20 tại thời điểm ký, phê chuẩn hoặc gia nhập, và có thể rút bảo lưu này bất kỳ lúc nào.
- Thủ tục sửa đổi, bổ sung (Điều 29): Quốc gia thành viên có thể đề xuất sửa đổi. Nếu có ít nhất 1/3 số nước ủng hộ, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ triệu tập hội nghị để xem xét. Sửa đổi được thông qua bằng đa số và có hiệu lực khi được 2/3 số quốc gia thành viên chấp thuận, chỉ ràng buộc những quốc gia đã chấp thuận sửa đổi đó.
- Giải quyết tranh chấp pháp lý (Điều 30): Tranh chấp về giải thích hoặc áp dụng Công ước không giải quyết được bằng thương lượng sẽ được đưa ra trọng tài. Nếu sau 6 tháng không thống nhất được về tổ chức trọng tài, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ). Quốc gia thành viên có quyền tuyên bố bảo lưu không chịu ràng buộc bởi điều khoản này.
- Rút khỏi Công ước - Bãi ước (Điều 31): Quốc gia thành viên có thể bãi ước bằng cách gửi thông báo bằng văn bản cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Việc bãi ước có hiệu lực sau 1 năm kể từ ngày nhận thông báo. Việc bãi ước không miễn trừ nghĩa vụ đối với các hành vi xảy ra trước ngày bãi ước có hiệu lực.
- Thông báo và ngôn ngữ chính thức (Điều 32 - Điều 33): Tổng thư ký Liên Hợp Quốc có trách nhiệm thông báo cho các quốc gia về việc ký, phê chuẩn, gia nhập, hiệu lực, sửa đổi và bãi ước. Công ước được làm bằng các thứ tiếng: Ả-rập, Trung, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha với giá trị pháp lý ngang nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
(Được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1984 theo Nghị quyết 39/46. Có hiệu lực từ ngày 26/6/1987, theo Điều 27(1))
Các quốc gia thành viên Công ước này,
Xét rằng, theo những nguyên tắc được tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc, việc công nhận các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên thế giới,
Thừa nhận rằng, những quyền đó xuất phát từ nhân phẩm vốn có của con người,
Xét nghĩa vụ của các quốc gia theo Hiến chương, cụ thể theo điều 55, là thúc đẩy sự tôn trọng và tuân thủ chung với các quyền và tự do cơ bản của con người,
Xét điều 5 của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và điều 7 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó cả hai điều đều quy định rằng, không ai phải chịu tra tấn hoặc đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.
Cũng xét đến Tuyên bố về bảo vệ mọi người không bị tra tấn, đối xử hay hình phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 9/12/1975,
Mong muốn cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn,
Đã thoả thuận như sau:
2. Quy định trong điều này không làm phương hại tới bất kỳ văn kiện quốc tế hay pháp luật quốc gia nào có hay có thể có các điều khoản có mức độ áp dụng rộng rãi hơn.
2. Không có bất kỳ hoàn cảnh ngoại lệ nào, cho dù là trong tình trạng chiến tranh, hoặc đang bị đe doạ bởi chiến tranh, mất ổn định chính trị trong nước hoặc bất kỳ tình trạng khẩn cấp nào có thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.
3. Mệnh lệnh của quan chức hay của cơ quan có thẩm quyền cấp trên không thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.
2. Để xác định xem có những lý do đó hay không, các nhà chức trách có thẩm quyền phải xem xét mọi yếu tố có liên quan, bao gồm sự tồn tại của một mô hình vi phạm các quyền con người một cách thô bạo, trắng trợn và phổ biến ở quốc gia liên quan, nếu có.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải trừng trị những tội phạm này bằng những hình phạt thích đáng tương ứng với tính chất nghiêm trọng của chúng.
a) Khi hành vi phạm tội được thực hiện trên bất cứ vùng lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của quốc gia hay trên tàu thuỷ hoặc máy bay đăng ký ở quốc gia đó.
b) Khi người bị tình nghi phạm tội là công dân của quốc gia đó.
c) Khi nạn nhân là công dân của quốc gia đó nếu quốc gia đó thấy thích đáng.
2. Mỗi quốc gia thành viên cũng phải tiến hành những biện pháp cần thiết để xác lập quyền tài phán của mình đối với những hành vi phạm tội này trong trường hợp người bị tình nghi phạm tội đang có mặt ở bất kỳ vùng lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình và quốc gia đó không dẫn độ người bị tình nghi theo điều 8 đến bất kỳ quốc gia nào nói ở khoản 1 điều này.
3. Công ước này không loại trừ bất kỳ quyền tài phán hình sự nào được thực thi theo pháp luật quốc gia.
2. Quốc gia nêu trên phải tiến hành ngay việc điều tra sơ bộ sự việc.
3. Bất kỳ ai bị giam giữ theo khoản 1 điều này phải được giúp đỡ liên hệ ngay với đại diện thích hợp gần nhất của quốc gia mà người đó là công dân, hoặc, nếu người đó là người không quốc tịch, với đại diện của quốc gia nơi người đó thường trú.
4. Khi một quốc gia bắt giữ một người theo quy định tại điều này, quốc gia đó phải thông báo ngay cho quốc gia nói tại khoản 1 điều 5 về việc người đó bị bắt giữ, và hoàn cảnh đòi hỏi phải bắt giữ người đó. Quốc gia tiến hành điều tra sơ bộ nói ở khoản 2 điều này phải nhanh chóng thông báo kết quả điều tra của mình cho các quốc gia nói trên và cho biết có dự định thực thi quyền tài phán hay không.
2. Những cơ quan thẩm quyền này phải quyết định tương tự như trường hợp của bất kỳ hành vi phạm tội thông thường nào có tính chất nghiêm trọng theo pháp luật của quốc gia đó. Trong các trường hợp nói ở khoản 2 điều 5, tiêu chuẩn về chứng cứ cần thiết để truy tố và kết tội phải không kém nghiêm ngặt hơn những tiêu chuẩn áp dụng cho các trường hợp nói tại khoản 1 điều 5.
3. Bất kỳ người nào đang là đối tượng của quá trình tố tụng vì bất kỳ hành vi phạm tội nào nói tại điều 4 phải được bảo đảm đối xử công bằng trong mọi giai đoạn tố tụng.
2. Nếu một quốc gia thành viên chỉ cho phép dẫn độ khi có điều ước quốc tế về dẫn độ mà nhận được yêu cầu dẫn độ của một quốc gia thành viên khác không có điều ước quốc tế về dẫn độ với mình thì quốc gia đó có thể coi Công ước này là cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ đối với những hành vi phạm tội này. Việc dẫn độ sẽ phải tuân thủ những điều kiện khác do pháp luật của quốc gia được yêu cầu dẫn độ quy định.
3. Các quốc gia thành viên không đặt điều kiện dẫn độ bằng việc có điều ước quốc tế về dẫn độ phải công nhận những hành vi phạm tội này là tội có thể dẫn độ giữa họ với nhau, theo những điều kiện do pháp luật của quốc gia được yêu cầu dẫn độ quy định.
4. Những hành vi phạm tội này phải được xử lý, vì mục đích dẫn độ giữa các quốc gia thành viên, như thể chúng được thực hiện không chỉ tại nơi xảy ra tội phạm, mà cả trên lãnh thổ của các quốc gia được yêu cầu xác lập quyền tài phán của mình theo khoản 1 điều 5.
2. Các quốc gia thành viên phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo khoản 1 điều này phù hợp với bất kỳ điều ước quốc tế nào về tương trợ tư pháp có thể có giữa các quốc gia này.
2. Mỗi quốc gia thành viên phải đưa việc nghiêm cấm này vào các quy tắc hoặc hướng dẫn được ban hành về nhiệm vụ và chức năng của tất cả những đối tượng kể trên.
2. Không một quy định nào trong điều này ảnh hưởng tới bất kỳ quyền được bồi thường nào của nạn nhân hay của người khác có thể có theo pháp luật quốc gia.
2. Các quy định của Công ước này sẽ không làm phương hại tới các quy định của bất kỳ văn kiện nào khác trong pháp luật quốc tế hay pháp luật quốc gia mà nghiêm cấm các hành động đối xử và trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm, hoặc liên quan đến các vấn đề dẫn độ hay trục xuất.
2. Các thành viên Uỷ ban sẽ được bầu bằng bỏ phiếu kín trên cơ sở danh sách đề cử của các quốc gia thành viên. Mỗi quốc gia có thể đề cử một công dân nước mình. Các quốc gia thành viên cần chú ý đến lợi ích của việc đề cử những người cũng là thành viên của Uỷ ban quyền con người được thành lập theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và những người sẵn sàng làm việc trong Uỷ ban chống tra tấn.
3. Việc bầu các thành viên Uỷ ban sẽ được tiến hành tại cuộc họp toàn thể các nước thành viên tổ chức hai năm một lần do Tổng thư ký Liên Hợp Quốc triệu tập. Tại các cuộc họp này, với điều kiện phải có sự hiện diện của ít nhất 2/3 số quốc gia thành viên, những người được bầu vào Uỷ ban là những ứng cử viên có số phiếu cao nhất và chiếm đa số tuyệt đối phiếu bầu của đại diện các quốc gia có mặt và bỏ phiếu.
4. Lần bầu cử đầu tiên tổ chức không muộn hơn sáu tháng sau ngày Công ước này có hiệu lực. Ít nhất bốn tháng trước ngày bầu cử, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ gửi thư cho các quốc gia thành viên yêu cầu họ gửi danh sách đề cử trong vòng ba tháng. Tổng thư ký sẽ chuẩn bị một danh sách những người được đề cử xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái La tinh, có ghi rõ quốc gia đề cử, và gửi cho các quốc gia thành viên.
5. Các thành viên của Uỷ ban được bầu với nhiệm kỳ bèn năm. Họ có thể được bầu lại nếu được đề cử. Tuy nhiên, nhiệm kỳ của năm thành viên trong cuộc bầu cử đầu tiên sẽ chấm dứt sau hai năm. Ngay sau lần bầu cử đầu tiên, tên của năm thành viên này sẽ do chủ toạ của cuộc họp nói tại khoản 3 điều này chọn bằng rút thăm.
6. Nếu mét thành viên Uỷ ban chết hoặc từ chức hoặc vì bất kỳ lý do nào khác mà không thể thực hiện nhiệm vụ của mình, quốc gia thành viên đã đề cử người đó sẽ bổ nhiệm một chuyên gia khác là công dân nước mình làm việc hết thời gian còn lại của nhiệm kỳ, với điều kiện được sự chấp thuận của các đa số quốc gia thành viên. Sự chấp thuận được coi là đạt được khi có hơn một nửa số quốc gia trả lời đồng ý trong vòng sáu tuần sau khi được Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thông báo về việc bổ nhiệm đó.
7. Các quốc gia thành viên phải chịu chi phí cho các thành viên Uỷ ban khi họ thực hiện nhiệm vụ của Uỷ ban.
1. Uỷ ban sẽ bầu các quan chức của mình với nhiệm kỳ hai năm. Họ cũng có thể được bầu lại.
2. Uỷ ban sẽ đặt ra các quy tắc về thủ tục của mình, những quy tắc này, không kể những nội dung khác, sẽ bao gồm những quy định sau:
a) Uỷ ban sẽ chỉ họp khi có ít nhất là sáu thành viên tham gia.
b) Các quyết định của Uỷ ban phải được thông qua bằng đa số phiếu của những thành viên có mặt.
3. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ cung cấp đầy đủ nhân sự và phương tiện để Uỷ ban thực hiện hiệu quả chức năng của mình theo quy định của Công ước này.
4. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ triệu tập cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban. Sau cuộc họp đầu tiên, Uỷ ban sẽ họp theo lịch trình quy định trong quy tắc về thủ tục của mình.
5. Các quốc gia thành viên chịu các phí tổn về tổ chức các cuộc họp của quốc gia thành viên và của Uỷ ban, kể cả việc hoàn lại cho Liên Hợp Quốc các chi phí về nhân sự và phương tiện mà Liên Hợp Quốc đã chi theo khoản 3 điều này.
2. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuyển các báo cáo tới tất cả các quốc gia thành viên.
3. Mọi báo cáo sẽ được Uỷ ban xem xét, Uỷ ban có thể đưa ra nhận xét về các báo cáo nếu thấy phù hợp và gửi các nhận xét đó cho quốc gia thành viên liên quan. Quốc gia thành viên đó có thể gửi ý kiến trả lời của mình cho Uỷ ban.
4. Uỷ ban có thể tuỳ ý quyết định đưa nhận xét của mình theo khoản 3 điều này, cùng với những ý kiến nhận được sau đó từ quốc gia thành viên liên quan, vào báo cáo thường niên của mình theo quy định tại điều 24. Nếu quốc gia thành viên liên quan yêu cầu, Uỷ ban cũng có thể đưa bản sao của báo cáo được đệ trình theo khoản 1 điều này vào báo cáo thường niên của Uỷ ban.
2. Xem xét mọi ý kiến mà quốc gia thành viên liên quan có thể đưa ra, cũng như bất kỳ thông tin liên quan nào khác có được, Uỷ ban có thể, nếu thấy cần thiết, cử một hay nhiều uỷ viên tiến hành một cuộc điều tra kín và khẩn trương báo cáo kết quả với Uỷ ban.
3. Khi tiến hành một cuộc điều tra theo khoản 2 điều này, Uỷ ban phải tìm kiếm sự hợp tác của quốc gia thành viên liên quan. Theo thoả thuận với quốc gia thành viên liên quan, cuộc điều tra có thể bao gồm một chuyến thăm viếng lãnh thổ của quốc gia đó.
4. Sau khi xem xét kết quả điều tra do một hay nhiều thành viên của mình đưa ra theo khoản 2 điều này, Uỷ ban sẽ chuyển kết quả điều tra này cho quốc gia thành viên cùng những nhận xét hay khuyến nghị mà Uỷ ban cho là thích hợp về vụ việc.
5. Mọi trình tự hoạt động của Uỷ ban đề cập tại các khoản từ 1 đến 4 của điều này sẽ được giữ kín, và tại mọi giai đoạn, Uỷ ban phải tìm kiếm sự hợp tác của quốc gia thành viên liên quan. Sau khi những trình tự liên quan tới một cuộc điều tra theo khoản 2 điều này kết thúc, Uỷ ban có thể, sau khi tham khảo ý kiến của quốc gia thành viên liên quan, quyết định đưa vào báo cáo thường niên của mình theo điều 24 bản tóm lược kết quả quá trình điều tra.
a) Nếu một quốc gia thành viên cho rằng một quốc gia thành viên khác không thực hiện các quy định của Công ước này thì có thể gửi một thông cáo bằng văn bản, lưu ý quốc gia kia về vấn đề đó. Trong vòng 3 tháng sau khi nhận được thông cáo, quốc gia nhận được thông cáo phải đưa ra lời giải thích hoặc bất kỳ hình thức tuyên bố nào khác bằng văn bản cho quốc gia gửi thông cáo để làm sáng tỏ vấn đề, trong đó cần đề cập đến, trong chừng mực có thể và thích hợp, những thủ tục trong nước cùng những biện pháp khắc phục đã, đang hoặc sẵn sàng tiến hành để giải quyết vấn đề.
b) Nếu vấn đề không được giải quyết một cách thỏa đáng với cả hai quốc gia thành viên liên quan trong vòng sáu tháng sau khi nhận được thông cáo đầu tiên, một trong hai quốc gia đó có quyền đưa vấn đề này ra Uỷ ban bằng cách gửi thông báo cho Uỷ ban và cho quốc gia kia;
c) Uỷ ban chỉ xem xét vấn đề theo điều này sau khi đã chắc chắn rằng mọi biện pháp khắc phục trong nước đều đã được áp dụng triệt để, phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế. Quy định này không áp dụng trong trường hợp việc tiến hành những biện pháp khắc phục bị kéo dài một cách vô lý hoặc không có khả năng đem lại sự cứu giúp hiệu quả cho nạn nhân của việc vi phạm Công ước này;
d) Uỷ ban sẽ họp kín khi xem xét những thông cáo theo điều này;
e) Với các quy định tại mục (c), Uỷ ban sẽ giúp đỡ các quốc gia thành viên liên quan giải quyết vấn đề một cách thân thiện trên cơ sở tôn trọng các nghĩa vụ theo Công ước này. Vì mục tiêu đó, Uỷ ban có thể, nếu thích hợp, thành lập một uỷ ban hoà giải lâm thời;
f) Khi xem xét bất kỳ vấn đề nào được chuyển đến, Uỷ ban có thể yêu cầu các quốc gia thành viên liên quan nêu tại mục (b) cung cấp bất kỳ thông tin liên quan nào;
g) Các quốc gia thành viên liên quan nêu tại mục (b) sẽ có quyền có mặt khi vấn đề được đem ra xem xét tại Uỷ ban và trình bày quan điểm bằng miệng và/hoặc bằng văn bản;
h) Trong vòng 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo theo mục (b), Ủy ban sẽ đệ trình một báo cáo:
(i) Nếu đạt được một giải pháp theo quy định tại mục (e), Uỷ ban sẽ giới hạn báo cáo trong một tuyên bố vắn tắt về sự việc và giải pháp đã đạt được;
(ii) Nếu không đạt được một giải pháp theo quy định tại mục (e), Uỷ ban sẽ giới hạn báo cáo trong một tuyên bố vắn tắt về sự việc; các ý kiến bằng văn bản và biên bản ghi những lời phát biểu do các quốc gia thành viên liên quan đưa ra sẽ được đính kèm báo cáo. Trong mọi trường hợp, báo cáo sẽ được gửi cho các quốc gia thành viên liên quan.
2. Quy định của điều này sẽ có hiệu lực khi có năm quốc gia thành viên Công ước ra tuyên bố theo khoản 1 điều này. Những tuyên bố đó sẽ được các quốc gia thành viên nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ gửi các bản sao cho các quốc gia thành viên khác. Tuyên bố có thể được rút lại bất kỳ lúc nào bằng việc thông báo cho Tổng thư ký. Việc rút lại tuyên bố như vậy sẽ không cản trở việc xem xét bất kỳ vấn đề nào nêu trong thông cáo đã được chuyển cho Ủy ban theo điều này; không một thông cáo nào của bất kỳ quốc gia thành viên nào được tiếp nhận theo điều này sau khi Tổng thư ký đã nhận được thông báo rút lại tuyên bố nói trên, trừ khi quốc gia thành viên liên quan đưa ra tuyên bố mới.
2. Quy định của điều này sẽ chỉ có hiệu lực khi có ít nhất năm quốc gia thành viên Công ước ra tuyên bố theo khoản 1 điều này. Những tuyên bố như vậy được các quốc gia thành viên nộp lưu chiểu với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Tổng thư ký sẽ gửi các bản sao tuyên bố cho những quốc gia thành viên khác. Tuyên bố có thể được rút lại bất kỳ lúc nào bằng một văn bản thông báo gửi cho Tổng thư ký. Việc rút lại ấy sẽ không làm cản trở việc xem xét bất kỳ vấn đề nào nêu trong thông cáo đã được chuyển cho Ủy ban theo điều này; không một thông cáo nào khác liên quan đến một quốc gia thành viên đã tuyên bố rút như vậy sẽ còn được tiếp nhận theo điều này sau khi Tổng thư ký đã nhận được thông báo rút lại tuyên bố nói trên, trừ khi quốc gia thành viên liên quan đưa ra tuyên bố mới.
2. Uỷ ban sẽ không chấp nhận theo điều này bất kỳ thông cáo nặc danh nào, hoặc những thông cáo bị coi là lạm dụng quyền đệ trình những thông cáo như thế, hoặc không phù hợp với những quy định của Công ước.
3. Phù hợp với các quy định tại khoản 2 điều này, Uỷ ban sẽ lưu ý các quốc gia thành viên Công ước đã có tuyên bố theo khoản 1 và bị cho là vi phạm quy định của Công ước về bất kỳ thông cáo nào mà Ủy ban nhận được theo điều này. Trong vòng sáu tháng, quốc gia nhận được thông cáo phải gửi văn bản giải thích cho Uỷ ban để làm sáng tỏ vấn đề và nêu ra những giải pháp pháp lý, nếu có, mà quốc gia đã thực hiện để giải quyết vấn đề.
4. Uỷ ban sẽ xem xét những thông cáo nhận được theo điều này dựa vào mọi thông tin có được từ các cá nhân hay đại diện của họ và từ quốc gia thành viên liên quan.
5. Uỷ ban sẽ không xem xét bất kỳ thông cáo nào của cá nhân theo điều này trừ khi tin chắc rằng:
a) Vấn đề đó chưa được xem xét, và không thuộc vào các vấn đề đang được xem xét, theo các thủ tục điều tra hoặc giải quyết quốc tế khác.
b) Cá nhân gửi thông cáo đã vận dụng hết những biện pháp pháp lý sẵn có ở quốc gia; quy định này sẽ không áp dụng với trường hợp việc tiến hành các giải pháp quốc gia bị kéo dài một cách vô lý, hoặc không có khả năng đem lại sự cứu giúp hiệu quả cho nạn nhân của việc vi phạm Công ước này.
6. Uỷ ban sẽ họp kín khi xem xét thông cáo theo điều này.
7.Uỷ ban sẽ gửi ý kiến của mình tới quốc gia thành viên và cá nhân có liên quan.
8. Các quy định của điều này sẽ chỉ có hiệu lực khi có ít nhất năm quốc gia thành viên Công ước ra tuyên bố theo khoản 1 điều này. Những quốc gia ra những tuyên bố như vậy sẽ nộp lưu chiểu với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Tổng thư ký sẽ chuyển các bản sao cho các quốc gia thành viên khác. Tuyên bố có thể được rút lại bất kỳ lúc nào bằng cách gửi văn bản thông báo cho Tổng thư ký. Việc rút lại tuyên bố sẽ không làm phương hại đến việc xem xét nội dung của những thông cáo đã được gửi tới Uỷ ban theo điều này; sẽ không một thông cáo nào của cá nhân hay đại diện cho họ khiếu nại về một quốc gia thành viên được tiếp nhận theo điều này sau khi Tổng thư ký đã nhận được thông báo rút lại tuyên bố như nêu trên của quốc gia thành viên có liên quan, trừ khi quốc gia thành viên đó đưa ra một tuyên bố mới.
Điều 24. Uỷ ban sẽ trình báo thường niên về hoạt động của mình theo Công ước này cho các quốc gia thành viên và cho Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.
2. Công ước này phải được phê chuẩn. Văn kiện phê chuẩn sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
2. Đối với các quốc gia phê chuẩn hay gia nhập Công ước này sau khi Công ước đã có hiệu lực, Công ước sẽ có hiệu lực với quốc gia đó sau 30 ngày kể từ khi văn kiện phê chuẩn hoặc gia nhập của quốc gia đó được lưu chiểu.
2. Bất kỳ quốc gia thành viên nào đã đưa ra bảo lưu theo khoản 1 điều này, vào bất cứ lúc nào, đều có thể rút bảo lưu bằng cách thông báo với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
2. Mọi sửa đổi được thông qua theo khoản 1 điều này sẽ có hiệu lực khi được 2/3 quốc gia thành viên Công ước này thông báo với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc rằng họ chấp thuận sửa đổi đó theo trình tự pháp luật tương ứng của họ.
3. Khi sửa đổi có hiệu lực, nó sẽ ràng buộc các quốc gia thành viên đã chấp thuận sửa đổi đó, các quốc gia thành viên khác vẫn bị ràng buộc bởi các quy định của Công ước này và bất kỳ nào sửa đổi mà họ đã chấp thuận trước đây.
2. Mỗi quốc gia có thể, vào lúc ký, phê chuẩn hoặc gia nhập Công ước này, tuyên bố rằng quốc gia đó không bị ràng buộc bởi khoản 1 điều này. Các quốc gia thành viên khác sẽ không bị ràng buộc bởi khoản 1 điều này đối với các quốc gia thành viên có tuyên bố như vậy.
3. Quốc gia thành viên đã đưa ra bảo lưu theo khoản 2 điều này có thể tuyên bố vào bất cứ lúc nào việc rút bảo lưu đó bằng cách thông báo cho Tổng thư ký Liên Hợp Quốc.
2. Việc bãi ước như vậy không miễn cho quốc gia thành viên liên quan các nghĩa vụ theo Công ước này đối với bất kỳ hành động hoặc không hành động nào xảy ra trước ngày bãi ước có hiệu lực, cũng như không ảnh hưởng tới việc tiếp tục xem xét những vấn đề đang được Uỷ ban xem xét trước ngày bãi ước có hiệu lực.
3. Tõ ngày tuyên bố bãi ước của một quốc gia thành viên có hiệu lực, Uỷ ban sẽ ngừng xem xét bất kỳ một thông cáo mới nào liên quan tới quốc gia ấy.
a) Việc ký, phê chuẩn và gia nhập theo điều 25 và 26.
b) Ngày Công ước có hiệu lực theo điều 27 và ngày những sửa đổi có hiệu lực theo điều 29.
c) Việc bãi ước theo điều 31.
2. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc sẽ chuyển các bản sao có chứng thực của công ước tới tất cả các quốc gia.
- 1Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948)
- 2Công ước về bắt giữ tàu năm 1999 của Liên hợp quốc
- 3Công ước Lao động Hàng hải 2006
- 4Hiến Chương Liên hợp quốc 1945
- 5Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị
- 6Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1975
- 7Nguyên tắc về điều tra và lưu trữ hiệu quả tư liệu về tra tấn hoặc đối xử, trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục, 2000
Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, 1984
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 10/12/1984
- Nơi ban hành: Liên hợp quốc
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 26/06/1987
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
