Giới thiệu chung về Công ước 111 năm 1958
Công ước 111 năm 1958 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp là một trong những văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Công ước hướng tới mục tiêu thúc đẩy sự bình đẳng về cơ hội và đối xử trong lao động, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên các yếu tố phi chuyên môn, đồng thời định hướng các quốc gia thành viên xây dựng chính sách quốc gia phù hợp với thực tiễn.
Phân tích chi tiết các quy định cốt lõi của Công ước 111
1. Định nghĩa về hành vi phân biệt đối xử trong lao động (Điều 1)
Điều 1 của Công ước đưa ra các tiêu chí cụ thể để xác định hành vi phân biệt đối xử cũng như phạm vi áp dụng của các thuật ngữ liên quan:
- Khái niệm phân biệt đối xử: Bao gồm bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi nào dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội, có tác động triệt tiêu hoặc làm tổn hại đến sự bình đẳng về cơ hội hoặc sự đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.
- Mở rộng phạm vi phân biệt đối xử: Các quốc gia thành viên có thể xác định thêm các hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi khác sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động, người lao động và các tổ chức thích hợp khác.
- Trường hợp ngoại lệ: Những hành vi phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi dựa trên các đòi hỏi vốn có, mang tính khách quan của một công việc cụ thể thì không bị coi là phân biệt đối xử.
- Phạm vi của "việc làm" và "nghề nghiệp": Các thuật ngữ này bao hàm cả quá trình tiếp nhận đào tạo nghề, tiếp nhận việc làm, các loại nghề nghiệp khác nhau và toàn bộ các điều kiện sử dụng lao động.
2. Cam kết xây dựng chính sách quốc gia về bình đẳng lao động (Điều 2)
Điều 2 quy định nghĩa vụ mang tính nguyên tắc của các quốc gia thành viên:
- Mỗi quốc gia thành viên cam kết tuyên bố và theo đuổi một chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy sự bình đẳng về cơ hội và đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.
- Chính sách này phải được thực hiện bằng các phương pháp phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn quốc gia nhằm xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong lĩnh vực này.
3. Các biện pháp thực thi chính sách quốc gia (Điều 3)
Để hiện thực hóa chính sách quốc gia, Điều 3 yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng các biện pháp cụ thể sau:
- Hợp tác liên bên: Tranh thủ sự cộng tác của các tổ chức người sử dụng lao động, tổ chức người lao động và các tổ chức thích hợp khác để thúc đẩy việc chấp nhận và áp dụng chính sách.
- Xây dựng pháp luật và giáo dục: Ban hành các đạo luật và thúc đẩy các chương trình giáo dục nhằm hỗ trợ việc chấp nhận và thực thi chính sách bình đẳng.
- Rà soát văn bản pháp lý: Bãi bỏ các quy định pháp luật và sửa đổi các chỉ thị hoặc thủ tục hành chính không phù hợp với chính sách bình đẳng.
- Điều tiết chính sách việc làm: Theo đuổi chính sách việc làm dưới sự điều tiết trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Giám sát hệ thống dịch vụ việc làm: Bảo đảm việc tuân thủ chính sách trong các hoạt động hướng nghiệp, đào tạo nghề và sắp xếp việc làm thuộc sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Báo cáo định kỳ: Chỉ rõ trong báo cáo hàng năm về việc áp dụng Công ước các biện pháp đã thực hiện và kết quả chung đã đạt được.
4. Bảo vệ an ninh quốc gia và quyền khiếu nại (Điều 4)
Điều 4 quy định về giới hạn áp dụng đối với các trường hợp ảnh hưởng đến an ninh quốc gia:
- Không coi là phân biệt đối xử đối với các biện pháp áp dụng cho một cá nhân đang tham gia hoặc bị nghi ngờ chính đáng là đã tham gia vào hoạt động gây phương hại đến an ninh quốc gia.
- Tuy nhiên, quy định này chỉ có hiệu lực với điều kiện cá nhân đó vẫn giữ nguyên quyền khiếu nại tới một cấp có thẩm quyền được thiết lập theo tập quán pháp luật quốc gia.
5. Các biện pháp bảo vệ và trợ giúp đặc biệt (Điều 5)
Điều 5 làm rõ các trường hợp ưu tiên hoặc hỗ trợ đặc thù không bị xem là phân biệt đối xử:
- Theo các tiêu chuẩn quốc tế: Các biện pháp bảo vệ hoặc trợ giúp đặc biệt được quy định trong các Công ước hoặc Khuyến nghị khác do Hội nghị Lao động quốc tế thông qua.
- Theo nhu cầu đặc thù quốc gia: Sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và người lao động, quốc gia thành viên có thể xác định các biện pháp đặc biệt nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của những đối tượng cần được bảo vệ hoặc trợ giúp do các lý do như giới tính, tuổi tác, tàn tật, gánh nặng gia đình, trình độ văn hóa hoặc xã hội.
6. Áp dụng đối với các lãnh thổ phi chính thức (Điều 6)
Điều 6 quy định về phạm vi lãnh thổ áp dụng của Công ước:
- Mỗi quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước cam kết áp dụng các điều khoản này đối với các lãnh thổ phi chính thức thuộc quyền quản lý của mình, tuân thủ theo các quy định trong Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
CÔNG ƯỚC SỐ 111
CÔNG ƯỚC
VỀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG VIỆC LÀM VÀ NGHỀ NGHIỆP, 1958
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 4 tháng 10 năm 1958, trong kỳ họp thứ bốn mươi hai, và
Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp, và vấn đề thuộc điểm thứ tư trong chương trình nghị sự kỳ họp, và
Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế, và
Xét rằng Tuyên ngôn Phi la đen phi a khẳng định tất cả mọi gười sinh ra, không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng hay giới tính, đều có quyền mưu cầu đời sống vật chất và tinh thần đầy đủ trong điều kiện tự do và nhân phẩm, ổn định kinh tế và cơ hội bình đẳng, và
Còn xét rằng việc phân biệt đối xử là một sự vi phạm các quyền được ghi trong Tuyên ngôn chung về nhân quyền,
Thông qua ngày 25 tháng 6 năm 1958, Công ước dưới đây, gọi là Công ước về Phân biệt đối xử, 1958.
Điều 1
1. Trong Công ước này, thuật ngữ “phân biệt đối xử” bao gồm:
a). Mọi sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, chính kiến, dòng dõi dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội, có tác động triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng về cơ may hoặc về đối xử trong việc làm hoặc nghề nghiệp;
b). Mọi sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi khác nhằm triệt bỏ hoặc làm phương hại sự bình đẳng về cơ may hoặc về đối xử mà Nước thành viên hữu quan sẽ có thể chỉ rõ sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và của người lao động, nếu có, và của các tổ cức thích hợp khác.
2. Mọi sự phân biệt, loại trừ hoặc ưu đãi thuộc một công việc nhất định và căn cứ trên những đòi hỏi vốn có của công việc đó thì sẽ không coi là phân biệt đối xử.
3. Trong Công ước này, những thuật ngư “việc làm” và “nghề nghiệp” bao hàm cả việc được tiếp nhận đào tạo nghề, được tiếp nhân việc làm và các loại nghề nghiệp, và cả các điều kiện sử dụng lao động.
Điều 2
Mỗi Nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này cam kết tuyên bố và theo đuổi một chính sách quốc gia, nhằm thúc đẩy bằng những phương pháp thích ứng với hoàn cảnh và thực tiẽn quốc gia, sự bình đẳng về cơ may và về đối xử trong việc làm và nghề nghiệp để nhằm huỷ bỏ mọi sự phân biệt đối xử về mặt này.
Điều 3
Mỗi Nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này phải có các biện pháp thích ứng với hoàn cảnh và thực tiễn quốc gia để:
a). Tìm sự cộng tác với các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động và các tổ chức thích hợp khác nhằm đẩy mạnh việc chấp nhận và áp dụng chính sách đó;
b). Ban hành các đạo luật và thúc đẩy các chương trình giáo dục có việc chấp nhận và áp dụng chính sách đó;
c). Huỷ bỏ mọi quy định pháp luật và sửa đổi mọi chỉ thị hoặc mọi thủ tục hành chính không phù hợp với chính sách đó;
d). Theo đuổi chính sách việc làm có sự điều tiết trực tiếp của cơ quan có thẩm quyền;
e). Bảo đảm việc tuân thủ chính sách đó trong các hoạt động của các tổ chức hướng nghiệp, đào tạo nghề và sắp xếp việc làm đặt dưới sự quản lý của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
f). Trong báo cáo hàng năm của mình về việc áp dụng Công ước, chỉ rõ những biện pháp đã sử dụng theo chính sách đó có kết quả chung đã đạt được.
Điều 4
Sẽ không coi là phân biệt đối xử, những biện pháp đối với một cá nhân đang tham gia hoặc bị nghi ngờ chính đáng là đã tham gia một hoạt động phương hại tới an ninh quốc gia, miễn là đương sự vẫn có quyền khiếu nại tới một cấp có thẩm quyền được thiết lập theo tập quán quốc gia.
Điều 5
1. Không được coi là phân biệt đối xử những biện pháp bảo vệ hoặc trợ giúp đặc biệt được quy định trong các Công ước hoặc Khuyến nghị khác mà Hội nghị Lao động quốc tế đã thông qua.
2. Mọi Nước thành viên, sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện, nếu có, của người sử dụng lao động và của người người lao động, đều có thể xác định không phải là phân biêth đối xử, mọi biện pháp đặc biệt nào nhằm đáp ứng nhu cầu riêng của những người mà việc bảo vệ hoặc sự trợ giúp đặc biệt đối với họ nói chung được thừa nhân là cần thiết vì những lý do như là giới tính, độ tuổi, tàn tật, gánh nặng gia đình, trình độ xã hội hoặc văn hoá.
Điều 6
Mỗi Nước thành viên phê chuẩn ông ước này cam kết áp dụng Công ước cho các lãnh thổ phi chính thức, theo những quy định trong Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế./.
- 1Nghị định thư thiết lập một Ủy ban hòa giải có trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp cho bất kỳ tranh chấp nào có thể phát sinh giữa các quốc gia thành viên Công ước về chống phân biệt đối xử trong Giáo dục
- 2Công ước về chống phân biệt đối xử trong giáo dục, 1960
- 3Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1975
- 4Tuyên bố xóa bỏ mọi hình thức không khoan dung và phân biệt đối xử dựa trên cơ sở tôn giáo hay tín ngưỡng, 1981
- 5Nghị định thư bổ sung của Công ước về xóa phân biệt đối xử đối với Phụ nữ, 1999
- 1Nghị định thư thiết lập một Ủy ban hòa giải có trách nhiệm tìm kiếm một giải pháp cho bất kỳ tranh chấp nào có thể phát sinh giữa các quốc gia thành viên Công ước về chống phân biệt đối xử trong Giáo dục
- 2Công ước về chống phân biệt đối xử trong giáo dục, 1960
- 3Tuyên bố về bảo vệ mọi người khỏi bị tra tấn và hình thức đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1975
- 4Tuyên bố xóa bỏ mọi hình thức không khoan dung và phân biệt đối xử dựa trên cơ sở tôn giáo hay tín ngưỡng, 1981
- 5Nghị định thư bổ sung của Công ước về xóa phân biệt đối xử đối với Phụ nữ, 1999
Công ước 111 năm 1958 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp
- Số hiệu: 111
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 25/06/1958
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
