Tóm tắt Thông tư số 11/LDTBXH-TT ngày 07/04/1997 - Phần mở đầu và các điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
Thông tư số 11/LDTBXH-TT do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành ngày 07 tháng 04 năm 1997 nhằm hướng dẫn thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động làm các nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Dưới đây là phần phân tích chi tiết nội dung phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên từ Điều 1 đến Điều 4 của Thông tư này.
- Sự cần thiết và căn cứ ban hành (Phần mở đầu)
Phần mở đầu của Thông tư khẳng định việc ban hành văn bản này nhằm cụ thể hóa các quy định của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ. Việc hướng dẫn chi tiết giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng, bù đắp hao phí lao động và bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm đối tượng lao động làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, có nguy cơ suy giảm khả năng lao động cao.
- Đối tượng và phạm vi áp dụng (Điều 1)
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước đối với các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức có sử dụng lao động và người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
- Đối tượng cụ thể: Người lao động trực tiếp làm các nghề, công việc thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (phân loại lao động loại V, VI) và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (phân loại lao động loại IV) do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
- Nguyên tắc xác định: Thời gian làm việc để tính hưởng chế độ phải là thời gian thực tế người lao động trực tiếp làm công việc đó và có đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ theo quy định.
- Chế độ hưu trí đối với lao động đặc thù (Điều 2)
- Điều kiện về tuổi đời: Người lao động có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, trong đó có ít nhất 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì được hưởng lương hưu với tuổi đời thấp hơn so với người làm việc trong điều kiện bình thường.
- Mức giảm tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 55 tuổi (giảm 5 tuổi so với quy định thông thường là 60 tuổi), nữ đủ 50 tuổi (giảm 5 tuổi so với quy định thông thường là 55 tuổi).
- Trường hợp đặc biệt: Đối với những người có đủ 15 năm làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí với mức tuổi đời thấp hơn nữa theo quy định chi tiết của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Chế độ ốm đau và thai sản (Điều 3)
- Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau: Người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng thời gian nghỉ ốm đau dài hơn so với lao động bình thường trong một năm. Cụ thể, thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội và tính chất đặc thù của công việc.
- Chế độ thai sản cho lao động nữ: Lao động nữ làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi sinh con hoặc nghỉ dưỡng thai được hưởng các chính sách ưu đãi về thời gian nghỉ ngơi và mức trợ cấp nhằm bảo đảm sức khỏe cho cả mẹ và con, hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường làm việc độc hại.
- Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (Điều 4)
- Xác định bệnh nghề nghiệp: Người lao động làm việc trong môi trường có yếu tố độc hại, nguy hiểm khi bị mắc các bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành sẽ được giám định y khoa để xác định mức độ suy giảm khả năng lao động.
- Quyền lợi được hưởng: Được hưởng trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp (trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng) tùy thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động: Phải thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn, vệ sinh lao động, trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và tổ chức khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo đúng quy định pháp luật.
Lưu ý: Các quy định tại các điều khoản đầu này đặt nền móng pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động trực tiếp sản xuất trong các ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, hóa chất và các lĩnh vực nguy hiểm khác tại Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 11-LĐTBXH/TT | Hà Nội, ngày 07 tháng 4 năm 1997 |
Căn cứ Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 và Điều lệ bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ;
Căn cứ vào các Quyết định số 1453/LĐTBXH-TT ngày 13-10-1995, số 915/LĐTBXH-TT ngày 30-7-1996, số 1629/LĐTBXH-TT ngày 26-12-1996, số 1085/LĐTBXH-TT ngày 6-9-1996 và số 44/LĐTBXH-TT ngày 29-1-1997 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành tạm thời Danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn áp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
Bao gồm những người thực sự làm các nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc Danh mục nghề do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và thuộc diện thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại các văn bản sau:
- Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 của Chính phủ và Thông tư số 06/LĐTBXH-TT ngày 4-4-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Điều lệ Bảo hiểm xã hội;
- Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ và Thông tư số 29/LB-TT ngày 2-11-1995 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quốc phòng - Nội vụ hướng dẫn thực hiện Điều lệ Bảo hiểm xã hội.
1. Nguyên tắc tính thời gian.
Căn cứ vào nghề hoặc công việc trong Danh mục ban hành kèm theo các Quyết định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để áp dụng như sau:
a - Người có thời gian làm nghề hoặc công việc xếp loại V, loại VI được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
b - Người có thời gian làm nghề hoặc công việc xếp loại IV được tính là thời gian làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
2. Cách tính thời gian đối với người đã có quá trình làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
a - Đối với người làm nghề hoặc công việc trước đây (trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành) đã được xếp loại IV, nay theo Danh mục nghề mới xếp cùng loại IV thì thời gian được tính theo loại IV kể từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm 1 nghề từ năm 1960 đến nay, trước đây nghề này được xếp loại IV, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại IV thì người này được tính thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm từ năm 1960 đến nay.
b - Đối với người làm nghề hoặc công việc mà trước đây đã được xếp loại V, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại V hoặc xếp loại VI thì thời gian được tính theo loại V hoặc loại VI kể từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm 1 nghề từ năm 1970 đến nay, trước đây nghề này được xếp loại V, nay theo Danh mục nghề mới cũng được xếp loại V thì người này được tính thời gian làm nghề đặc biệt nặng nhọc từ năm 1970 đến nay.
c - Đối với người làm cùng 1 nghề hoặc công việc nhưng trước đây chưa được xếp loại mà nay nghề hoặc công việc này được xếp loại IV trở lên thì thời gian làm nghề hoặc công việc này được tính loại IV trở lên từ khi bắt đầu làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một người có thời gian làm thợ xây ở Trường Sa từ năm 1992 nhưng chưa được xếp loại, nay theo Danh mục nghề mới được xếp loại IV thì được tính thời gian làm công việc loại IV từ năm 1992 đến nay.
d - Đối với người làm nghề hoặc công việc mà trước đây được xếp loại thấp hơn, nay theo Danh mục mới nghề hoặc công việc đó được xếp loại cao hơn thì người này được tính thời gian theo loại cao hơn kể từ khi bắt đầu vào làm nghề hoặc công việc đó.
Thí dụ:
Một công nhân làm nhiệm vụ xây lắp, sửa chữa đường cáp ngầm thông tin từ năm 1972, được xếp loại IV; nay theo Quyết định số 1453//LĐTBXH-QĐ ngày 13-10-1995 được xếp loại V thì thời gian làm nghề xây lắp sửa chữa cáp ngầm được tính từ năm 1972 đến nay là loại V.
e - Đối với một người làm nghề hoặc công việc mà trước đây đã được xếp loại cao hơn, nay theo Danh mục nghề mới xếp loại thấp hơn thì được tính thời gian làm nghề hoặc công việc theo loại cao đã xếp từ khi làm nghề hoặc công việc đó đến nay, từ nay trở đi tính theo loại mới thấp hơn.
Thí dụ:
Một quân nhân có thời gian từ 1980 đến nay làm thủ kho xăng dầu. Thời gian từ 1980 đến nay được xếp loại V theo quy định tại phụ lục kèm theo Thông tư số 313/TT-LB ngày 3-3-1994 của Liên Bộ Quốc phòng - Lao động-Thương binh và xã hội - Tài chính. Từ nay trở đi được xếp loại IV theo Danh mục nghề kèm theo Quyết định số 1085/LĐTBXH-QĐ ngày 6-9-1996 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Cách tính thời gian của quân nhân là:
- Từ năm 1980 đến nay được tính là nghề loại V (nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm);
- Từ nay trở đi được tính là nghề loại IV (nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).
III. ÁP DỤNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI.
Đối với người làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội như những người lao động khác; đồng thời còn được hưởng các chế độ theo những quy định riêng tại Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26-1-1995 của Chính phủ và Thông tư số 06/LĐ-TBXH-TT ngày 4-4-1995 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Điều lệ Bảo hiểm xã hội đối với sỹ quan, binh sỹ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15-7-1995 của Chính phủ và Thông tư số 29/LB-TT ngày 2-11-1995 của Liên Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Quốc phòng - Nội vụ.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Những người đã nghỉ việc hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội trước ngày Thông tư này có hiệu lực không áp dụng việc tính lại thời gian công tác theo quy định tại Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị phản ảnh về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, giải quyết.
|
| Trần Đình Hoan (Đã ký) |
- 1Decision No.1629/LĐTBXH-QD of December 26, 1996, on the promulgation of the provisional list of arduous, toxic, dangerous works, and extremely arduous, toxic, and dangerous works
- 2Decision No. 915/LDTBXH-QD of July 30, 1996, promulgating the provisional list of jobs and works that are hard, hazardous, dangerous, jobs and works that are particularly hard, hazardous, and dangerous
- 3Decision No. 1453/LDTBXH-QD of October 13, 1995, on promulgating the provisional list of occupation, extremely hard, toxic, dangerous works and hard, toxic, dangerous works
- 4Decree No. 12-CP of January 26, 1995, issuing the regulation on social insurance
Circular No. 11/LDTBXH-TT of April 07, 1997, guiding the social insurance regimes applicable to persons engaged in occupations or work listed as extra-heavy, -harmful, -hazardous and heavy, harmful, hazardous occupations or work
- Số hiệu: 11/LDTBXH-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 07/04/1997
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Trần Đình Hoan
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/04/1997
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
