Giới thiệu về Chỉ thị 21/CT.UB năm 1990 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang
Chỉ thị 21/CT.UB được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ, nhằm mục tiêu tổ chức và chấn chỉnh lại hệ thống cửa hàng bán lẻ vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm thiết lập trật tự trong lưu thông vật tư nông nghiệp, phục vụ kịp thời cho sản xuất nông nghiệp tại một trong những tỉnh trọng điểm về lúa gạo của cả nước.
Các mục tiêu và chính sách cốt lõi của Chỉ thị
Dựa trên nội dung định hướng của Chỉ thị 21/CT.UB, các chính sách quản lý và tổ chức hệ thống bán lẻ vật tư nông nghiệp được tập trung vào các vấn đề trọng tâm sau:
- Quy hoạch và tổ chức lại mạng lưới bán lẻ: Tiến hành rà soát, sắp xếp lại toàn bộ các điểm, cửa hàng bán lẻ vật tư nông nghiệp và phân bón trên địa bàn tỉnh An Giang. Đảm bảo mạng lưới phân phối được phân bổ hợp lý từ cấp tỉnh, cấp huyện đến tận các xã, ấp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nông dân tiếp cận nguồn vật tư sản xuất.
- Quản lý nguồn cung và bình ổn giá cả: Tăng cường kiểm soát nguồn phân bón nhập khẩu và phân phối trong tỉnh. Hạn chế tối đa các khâu trung gian không cần thiết nhằm giảm chi phí, bình ổn giá bán lẻ thực tế đến tay người nông dân, ngăn chặn tình trạng đầu cơ, găm hàng, nâng giá trong những thời điểm giáp vụ hoặc cao điểm sản xuất.
- Kiểm soát chất lượng vật tư nông nghiệp: Đề ra các biện pháp nghiêm ngặt nhằm kiểm tra chất lượng phân bón và vật tư lưu thông trên thị trường. Ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi kinh doanh phân bón giả, phân bón kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ gây thiệt hại cho mùa màng và kinh tế của hộ nông dân.
- Phân định rõ vai trò của các thành phần kinh tế: Xác định vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã trong việc cung ứng vật tư nông nghiệp, đồng thời hướng dẫn, quản lý và tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh cá thể tham gia mạng lưới bán lẻ theo đúng quy định của pháp luật.
Trách nhiệm triển khai và tổ chức thực hiện
Để đảm bảo hiệu lực thi hành của Chỉ thị, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan:
- Sở Nông nghiệp và các cơ quan chuyên môn: Chịu trách nhiệm chính trong việc tham mưu quy hoạch mạng lưới, hướng dẫn kỹ thuật sử dụng phân bón an toàn, hiệu quả và phối hợp kiểm tra chất lượng sản phẩm lưu thông.
- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã: Trực tiếp chỉ đạo việc sắp xếp các cửa hàng bán lẻ trên địa bàn quản lý, cấp phép kinh doanh đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ hoạt động mua bán thực tế tại địa phương.
- Lực lượng Quản lý thị trường: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về giá, nhãn mác, chất lượng sản phẩm và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh vật tư nông nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn của Chỉ thị 21/CT.UB
Chỉ thị 21/CT.UB năm 1990 đã góp phần quan trọng trong việc ổn định thị trường vật tư nông nghiệp tại An Giang trong giai đoạn đầu đổi mới. Việc tổ chức tốt hệ thống cửa hàng bán lẻ không chỉ giúp bảo vệ lợi ích hợp pháp của người nông dân mà còn thúc đẩy năng suất cây trồng, bảo đảm an ninh lương thực và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 21/CT.UB | Long Xuyên, ngày 27 tháng 8 năm 1990 |
CHỈ THỊ
VỀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG CỬA HÀNG BÁN LẺ VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP (PHÂN BÓN) TRONG TỈNH
Chấp hành quyết định số 269/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 30/7/1990 “Về một số vấn đề cấp bách đối với sản xuất, cân đối lương thực, phân bón” và thực hiện thông báo số 97/TB.TU ngày 13/7/1990 của Thường Vụ Tỉnh ủy.
Để chủ động bảo đảm cân đối nguồn vật tư nông nghiệp và thực hiện cho được yêu cầu cung ứng kịp thời cho sản xuất Đông xuân 1990 – 1991 đến tận tay nông dân (nhất là các loại phân hóa học) ngăn chặn mọi tiêu cực có thể xảy ra.
Theo tinh thần trên Ủy ban nhân dân tỉnh chị thị:
1- Yêu cầu phân bón cho từng năm là rất lớn, trước mắt phải bảo đảm cho đông xuân 1990 – 1991 là 35.000 tấn Urê và 17.000 tấn DAP hoặc NPK. Sau khi ký hợp đồng với Công ty III thuộc Bộ Nông nghiệp công nghiệp thực phẩm (Trung ương 50%, tỉnh 50%), phần 50% của tỉnh, Sở Nông nghiệp có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân điều hành và kiểm tra việc thực hiện của các Công ty để đến tháng 11/1990 thực hiện đúng số lượng chất lượng chủng loại được giao.
Đối với các huyện, thị nếu có khả năng tự cân đối hoặc bổ sung thêm kế hoạch của huyện thì huyện đăng ký tại Sở Nông nghiệp để thống nhất điều hành.
2- Việc tổ chức cung ứng vật tư Nông nghiệp (xăng, dầu, phân bón, thuốc BVTV, thú y) tiếp tục thực hiện theo quyết định 272/QĐ.UB ngày 22/12/1989 của UBND Tỉnh.
Riêng đối với phân bón vẫn thực hiện chủ trương thương mại hóa vật tư theo nguyên tắc Nhà nước không bù lỗ và không điều tiết lãi (nếu có) nhằm đảm bảo giá cả hợp lý, tránh thiệt hại cho nông dân và từng bước có dự trữ (một phần do nguồn thu từ chênh lệch lãi). Cho phép tư nhân được mở cửa hàng bán lẻ phân bón, nhưng phải có đăng ký hành nghề (được Sở nông nghiệp công nhận) và được Ủy ban nhân dân huyện, thị cho phép.
Nguồn phân bón kế hoạch từ tỉnh đưa về giao cho Công ty Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp trực tiếp tổ chức hệ thống cửa hàng khu vực và cung ứng cho các trạm vật tư huyện thị và các đại lý bán lẽ của xã (mỗi xã từ 1 đến 2 đại lý) theo nguyên tắc kinh doanh và bán tận tay nông dân không phải thông qua một cấp quản lý, hạch toàn nào khác.
3- Ủy ban nhân dân các huyện, thị chịu trách nhiệm chọn và giao cho Công ty Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp một địa bàn (các Trung tâm KT) có cơ sở nhà kho; và sau khi thống nhất (giữa công ty Dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp và UBND Huyện) UBND Tỉnh sẽ chính thức điều TS này cho Công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp và co đây là cửa hàng phân bón khu vực của tỉnh để bán cho các trạm vật tư và các đại lý.
4- Phương thức cung ứng vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là mua bán đứt đoạn, thanh toán sòng phẳng. Trường hợp thật đặc biệt thì UBND Huyện thị chịu trách nhiệm bảo lãnh và phải thống nhất với ngành nông nghiệp.
Giá bán các loại vật tư do UBND Tỉnh quy định thống nhất trong toàn tỉnh trên tinh thần đảm bảo kinh doanh và người sản xuất chấp nhận được.
5- Nguồn ngoại tệ do xuất khẩu lương thực, tỉnh thống nhất quản lý để chủ động nhập các loại vật tư phân bón, thuốc trừ sâu bảo đảm cho nhu cầu sản xuất theo kế hoạch sản xuất từng mùa vụ. Đồng thời cho phép các địa phương bằng vốn tự có kinh doanh các loại vật tư trên địa bàn của mình.
Mỗi huyện, thị tùy điều kiện mà hướng dẫn tổ chức một số trạm vật tư huyện (trạm này không phải là một đơn vị hạch toán) và 1 đến 2 đại lý tại xã để tiếp nhận và bán lẻ theo định mức nguồn phân bón từ công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp (chú ý trạm và đại lý là do huyện, xã tổ chức thực sự chứ không phải núp bóng của tư nhân).
6- Chính sách thuế đối với các đơn vị mua bán vật tư nông nghiệp:
- Đối với các cửa hàng điểm bán vật tư do Công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp trực tiếp cung cấp và quản lý và các trạm chính thức của các huyện, thị được miễn các loại thuế.
- Các đại lý bán xăng dầu phân bón ở phường xã thì phải nộp thuế môn bài và thuế hoa hồng (Sở Tài chính - Vật giá có hướng dẫn cụ thể).
- Các điểm bán vật tư của tư nhân (được cấp phép) phải đăng ký và nộp đủ các loại thuế theo quy định hiện hành.
7- UBND Xã kết hợp các đoàn thể chọn người, chọn điều kiện thuận lợi... để tổ chức các đại lý nhằm bảo đảm việc mua bán dễ dàng, để kiểm soát, kiểm tra.
Sở Nông nghiệp hướng dẫn biểu mẫu thống nhất bán cho nông dân để khi cần mang sổ đến đại lý mua phân bón theo định suất từng thời vụ.
- Việc tạo nguồn vật tư phục vụ cho sản xuất đang rất khó khăn nhưng việc phân phối (bán) đến tay người sử dụng được thuận lợi, dễ dàng tránh tiêu cực lại càng khó khăn hơn đòi hỏi phải có sự tập trung điều hành và tăng cường quản lý, kiểm tra của UBND các cấp, các đoàn thể quần chúng.
Giao cho Sở Nông nghiệp (Công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp) nghiên cứu kế hoạch cụ thể và cùng với UBND huyện thống nhất các quy định về tổ chức các cửa hàng, trạm, đại lý và các biểu mẫu bán lẻ theo từng hộ, từng TĐSX... để đến đầu vụ sản xuất vụ Đông xuân (tháng 10/1990) chính thức đi vào hoạt động.
|
| TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH |
- 1Quyết định 538/QĐ-UBND năm 2014 Công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành từ ngày 01/01/1977 - 31/12/2013
- 2Quyết định 1992/1998/QĐ.UB về chấm dứt hiệu lực pháp lý 152 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành từ năm 1990 đến năm 1996
- 3Quyết định 03/2016/QĐ-UBND Quy định thủ tục đăng ký tổ chức hội thảo, hội nghị, giới thiệu mô hình, mô hình trình diễn phân bón trên địa bàn tỉnh An Giang
- 1Quyết định 538/QĐ-UBND năm 2014 Công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành từ ngày 01/01/1977 - 31/12/2013
- 2Quyết định 1992/1998/QĐ.UB về chấm dứt hiệu lực pháp lý 152 văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành từ năm 1990 đến năm 1996
- 1Quyết định 272/QĐ.UB năm 1989 ban hành những quy định về quản lý, điều hành và kinh doanh xăng dầu, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và thuốc thú ý trong Tỉnh An Giang
- 2Quyết định 03/2016/QĐ-UBND Quy định thủ tục đăng ký tổ chức hội thảo, hội nghị, giới thiệu mô hình, mô hình trình diễn phân bón trên địa bàn tỉnh An Giang
Chỉ thị 21/CT.UB năm 1990 về tổ chức hệ thống cửa hàng bán lẻ Vật tư nông nghiệp phân bón do tỉnh An Giang ban hành
- Số hiệu: 21/CT.UB
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 27/08/1990
- Nơi ban hành: Tỉnh An Giang
- Người ký: Nguyễn Hữu Khánh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/08/1990
- Ngày hết hiệu lực: 01/10/1998
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
