Giới thiệu khái quát về Chỉ thị 17-NH-CT năm 1974
Chỉ thị 17-NH-CT được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhằm giải quyết triệt để tình trạng trì trệ trong khâu thanh toán và xử lý dứt điểm các khoản nợ dây dưa, kéo dài giữa các xí nghiệp, tổ chức kinh tế quốc doanh. Văn bản này hướng dẫn chi tiết việc sử dụng công cụ "giấy nhờ thu" như một biện pháp cưỡng chế tài chính hợp pháp qua hệ thống ngân hàng để thiết lập lại kỷ luật thanh toán không dùng tiền mặt.
- Mục đích cốt lõi của việc áp dụng giấy nhờ thu đòi nợ
- Thắt chặt kỷ luật tài chính và thanh toán giữa các đơn vị kinh tế cơ sở, hạn chế tối đa tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau gây ách tắc chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế.
- Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đơn vị bán hàng, cung cấp dịch vụ khi đã hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng nhưng không được thanh toán đúng hạn.
- Tăng cường vai trò kiểm soát bằng tiền của Ngân hàng Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa của các tổ chức quốc doanh.
- Đối tượng và điều kiện áp dụng biện pháp nhờ thu đòi nợ dây dưa
- Đối tượng áp dụng: Các xí nghiệp quốc doanh, tổ chức kinh tế, cơ quan, đơn vị có mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Nhà nước và có phát sinh quan hệ mua bán, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng kinh tế được ký kết hợp pháp.
- Điều kiện phát sinh quyền nhờ thu: Bên bán (bên chủ nợ) đã giao hàng hóa hoặc hoàn thành dịch vụ theo đúng thỏa thuận, có đầy đủ chứng từ hợp lệ nhưng bên mua (bên nợ) cố tình trì hoãn, kéo dài thời gian thanh toán mà không có lý do chính đáng được pháp luật thừa nhận.
- Yêu cầu về chứng từ: Giấy nhờ thu phải được lập đúng mẫu quy định, kèm theo các hóa đơn, chứng từ vận chuyển, biên bản giao nhận hàng hóa hoặc các văn bản xác nhận nợ có chữ ký, đóng dấu của cả hai bên để làm căn cứ pháp lý vững chắc cho ngân hàng thực hiện trích tài khoản.
- Quy trình xử lý và trích tài khoản của Ngân hàng Nhà nước
- Tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ: Ngân hàng nơi bên chủ nợ mở tài khoản có trách nhiệm tiếp nhận giấy nhờ thu và các chứng từ kèm theo, tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của bộ chứng từ trước khi chuyển giao sang ngân hàng phục vụ bên nợ.
- Thực hiện trích nợ tự động: Khi nhận được yêu cầu nhờ thu hợp lệ, ngân hàng phục vụ bên nợ có quyền và nghĩa vụ chủ động trích tiền từ tài khoản tiền gửi của bên nợ để chuyển trả cho bên chủ nợ mà không cần phải có sự đồng ý thêm của bên nợ, nếu khoản nợ đó đã quá hạn thanh toán theo quy định.
- Xử lý trường hợp tài khoản không đủ số dư: Trong trường hợp tài khoản của bên nợ không đủ tiền để thanh toán toàn bộ, ngân hàng sẽ thực hiện trích thu từng phần theo khả năng số dư hiện có và tiếp tục theo dõi, tự động trích thu tiếp khi tài khoản của bên nợ phát sinh dòng tiền vào cho đến khi thanh toán đủ khoản nợ.
- Trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan
- Đối với đơn vị thụ hưởng (bên chủ nợ): Phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của các số liệu, chứng từ đòi nợ. Nghiêm cấm việc lợi dụng giấy nhờ thu để đòi nợ khống hoặc đòi nợ khi chưa đủ điều kiện thanh toán theo hợp đồng.
- Đối với đơn vị trả tiền (bên nợ): Có nghĩa vụ duy trì số dư tài khoản để thanh toán các khoản nợ đến hạn. Trường hợp có khiếu nại về chất lượng hàng hóa hoặc sai lệch chứng từ, phải thực hiện khiếu nại theo đúng thủ tục pháp lý quy định nhưng không được tự ý đơn phương đình chỉ việc thanh toán qua ngân hàng khi chưa có phán quyết của cơ quan có thẩm quyền.
- Đối với Ngân hàng Nhà nước: Phải thực hiện đúng vai trò trung gian thanh toán và giám sát tài chính nghiêm túc. Cán bộ ngân hàng cố ý gây chậm trễ trong việc chuyển giao chứng từ hoặc trích tài khoản đòi nợ sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc theo quy định của ngành.
- Ý nghĩa thực tiễn của Chỉ thị 17-NH-CT năm 1974
Chỉ thị này là một giải pháp quản lý tài chính mạnh mẽ trong giai đoạn lịch sử bấy giờ, giúp khơi thông dòng vốn bị ứ đọng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của các doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, văn bản này cũng đặt nền móng cho việc hoàn thiện các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt và củng cố vai trò quản lý vĩ mô của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế quốc dân.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | VIỆT |
| Số: 17-NH-CT | Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 1974 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC DÙNG GIẤY NHỜ THU ĐÒI NỢ DÂY DƯA
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, xí nghiệp thu được các khoản tiền hàng và lao vụ đã trở thành công nợ dây dưa sau khi đã có biên bản đối chiếu công nợ hợp lệ, phát huy tính chủ động đòi tiền của bên chủ nợ cũng như tác dụng đôn đốc chấp hành kỷ luật chi trả của ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng trung ương quy định.
Trong đợt thanh toán công nợ dây dưa theo quyết định số 107-CP ngày 7-5-1974 của Hội đồng Chính phủ, các đơn vị kinh tế, các xí nghiệp là đơn vị hạch toán kinh tế được dùng giấy nhờ thu để đòi công nợ dây dưa phát sinh trong mối quan hệ mua bán hàng hóa và cung ứng lao vụ trong hai trường hợp sau đây:
1. Trong biên bản đối chiếu xác nhận công nợ hợp lệ có quy định rõ bên chủ nợ được lập giấy nhờ thu để đòi.
2. Bên khách nợ không lập giấy uỷ nhiệm chi để trả đúng thời hạn đã quy định trong biên bản đối chiếu xác nhận công nợ hợp lệ, thì bên chủ nợ được quyền lập giấy nhờ thu để đòi.
Ngoài các quy định chung theo chế độ thanh toán phải chấp hành đối với thể thức thanh toán chấp nhận giấy nhờ thu để đòi tiền về công nợ dây dưa, còn phải chấp hành đúng một số quy định riêng sau đây:
- Đơn vị chủ nợ khi lập giấy nhờ thu phải đính kèm 1 liên biên bản xác nhận công nợ hợp lệ (thay thế hoá đơn và chứng từ đòi nợ);
- Đơn vị chủ nợ phải đóng dấu hoặc viết tay bằng mực đỏ dòng chữ thanh toán công nợ dây dưa lên phía góc phải giấy nhờ thu;
- Thời hạn trả tiền các giấy nhờ thu là 30 ngày kể từ ngày ngân hàng B chuyển giao giấy nhờ thu cho đơn vị khách nợ (do ngân hàng B ghi rõ trên các giấy nhờ thu); hết hạn mà đơn vị không trả tiền thì ngân hàng trích tài khoản tiền gửi để trả, nếu chậm trả thì áp dụng phát chậm trả trả theo tỷ lệ 0,025% (hai phần rưỡi vạn) một ngày trên số tiền chậm trả;
- Ngân hàng Nhà nước mở 2 tiều khoản trong tài khoản ngoại bảng 9929: 9929.01 để hạch toán theo dõi giấy nhờ thu thông thường quá hạn và 9929.02 để hạch toán theo dõi giấy nhờ thu về công nợ dây dưa quá hạn (sau khi hết thời hạn trả tiền 30 ngày);
- Việc tra soát và đôn đốc các giấy nhờ thu đối với các ngân hàng B và các khách nợ do các đơn vị chủ nợ tiến hành theo mẫu của Ngân hàng Nhà nước quy định và do ngân hàng A ký tên đóng dấu chuyển đi;
- Ngân hàng không cho vay về giấy tờ thanh toán trên đường đi đối với các giấy nhờ thu đòi công nợ dây dưa.
Nhận được chỉ thị này các ông trưởng chi nhánh, trưởng chi điểm ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm tổ chức phổ biến cho các đơn vị kinh tế và trong nội bộ Ngân hàng Nhà nước thực hiện.
|
| K.T. TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT |
Chỉ thị 17-NH-CT năm 1974 về việc dùng giấy nhờ thu đòi nợ dây dưa do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- Số hiệu: 17-NH-CT
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 28/10/1974
- Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước
- Người ký: Vũ Duy Hiệu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 19
- Ngày hiệu lực: 12/11/1974
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
