|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 40/2021/DS-PT Ngày: 25-3-2021 V/v “Tranh chấp QSD đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng KH
Các Thẩm phán: Ông Hồ Văn Luông, Ông Nguyễn Đình Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Hùng Vĩ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 03 năm 2021, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 140/2020/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 01 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2021/QĐ-PT ngày 26 tháng 01 năm 2021 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 04/2021/QĐPT-DS ngày 23 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Th; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
- 2.1. Ông H; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- 2.2. Ông Liễu N; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam; địa chỉ trụ sở số A, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông T– chức vụ: Tổng Giám đốc
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông V– chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- 3.2. Bà T; địa chỉ ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- 3.3. Bà H; địa chỉ ấp A, xã A,, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- 3.4. Bà B; địa chỉ ấp ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/03/2019, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Th trình bày:
Nguồn gốc đất của ông Th là do nhận chuyển nhượng vào năm 2017 của bà Y và ông Th đã đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2018, thuộc thửa 894A (có số thửa mới 1696), tờ bản đồ số 06B với tổng diện tích còn lại là 2.486m2, loại đất lúa, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Quá trình ông Th canh tác sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp ranh với hộ ông H và ông Liễu N. Cụ thể ông H và ông Liễu N giáp ranh hai bên đã lấn chiếm của ông Th bề ngang 3,1m và dài 225m; tuy nhiên quá trình tranh chấp giữa ông Th và ông Liễu N đã thống nhất ranh không còn tranh chấp. Nay ông Th rút đơn khởi kiện đối với ông Liễu N, chỉ còn khởi kiện yêu cầu ông H trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế với diện tích 232,1m2.
Tại các lời khai và tại phiên tòa bị đơn ông H trình bày:
Nguồn gốc đất của ông H nhận chuyển nhượng của ông Tr và ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 và ông H cũng đã chuyển nhượng một phần, diện tích đất còn lại thuộc thửa 890 (có số thửa mới hiện tại là 1693); thửa 891 (có số thửa mới là 891A) và thửa 892 (có số thửa mới 892A), tờ bản đồ số 06 với tổng diện tích còn lại là 2.558m2, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Nay ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Th vì không có cơ sở cho rằng ông H lấn ranh, ông H đề nghị Tòa án công nhận phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế diện tích 232,1m2 là của ông H.
Tại văn bản ngày 26/6/2020 người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trình bày: Ngày 31/5/2018 ông H có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng để vay vốn số tiền 50.000.000đ. Trong vụ án này Ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết và yêu cầu được xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà B và bà H thống nhất theo lời trình bày của ông H, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Th.
Tại bản án sơ thẩm số: 22/2020/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Th đối với bị đơn ông H về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Th đối với bị đơn ông Liễu Ngọc Anh. Công nhận phần đất có diện tích 232,1m2 ký hiệu số (2) là của ông Th. Buộc hộ ông H chấm dứt hành vi ngăn cản ông Th canh tác.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020 bị đơn ông H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết công nhận cho ông phần đất có diện tích 2.558m2 và đo đạc thực tế cắm ranh đúng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với mảnh trích đo địa chính số 12/CN.SHC ngày 24/3/2021 của Công ty TNHH đo đạc Tài nguyên và Môi trường Sông Hậu để yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ giải quyết. Căn cứ mảnh trích số 12 thì phần đất tranh chấp có các vị trí: vị trí 1 diện tích 2.158,2m2; vị trí 2 diện tích 142,7m2; vị trí 3 diện tích 2.008,9m2; vị trí 4 diện tích 311,5m2; vị trí 5 diện tích 229,6m2. Nguyên đơn cho rằng phần đất tại vị trí 1a diện tích 2.7m2; vị trí 2a diện tích 99.7m2, vị trí 2b diện tích 43m2 và vị trí 5a diện tích 5.1m2; Tổng diện tích 150.5m2 là phần đất tranh chấp do bị đơn lấn chiếm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông H, Hội đồng xét xử nhận thấy, vào năm 2017 ông Th có mua của bà Y chủ cũ phần đất thửa 894A. Qua lời trình bày của các bên và sự thừa nhận của nguyên đơn cho thấy, vào thời điểm chuyển nhượng ông Th đã thống nhất nhận chuyển nhượng phần đất của bà Yến đang sử dụng thực tế và ông Th đã xác lập quyền sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng. Việc ông Th xác định diện tích theo giấy lớn hơn diện tích nhận chuyển nhượng thực tế để khởi kiện là chưa đủ cơ sở.
[3] Về diện tích đất đang sử dụng: Theo mảnh trích đo số 12, phần đất của bị đơn vẫn thiếu so với giấy chứng nhận. Tuy nhiên trong quá trình xem xét tại chỗ ngày 15/3/2021 và tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông H tự nguyện giao một phần đất tranh chấp cho nguyên đơn tại các vị trí 1a diện tích 2.7m2, vị trí 2b diện tích 43m2, và vị trí 5a diện tích 5.1m2; Tổng cộng 50.8m2. Việc này là có lợi cho nguyên đơn.
[4] Đối với kháng cáo yêu cầu xem xét lại chi phí thẩm định, định giá tài sản: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên chi phí này được chia theo tỷ lệ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông H. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Th. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông H. Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Công nhận cho nguyên đơn ông Th phần đất tại vị trí (5a) diện tích 5.1m2, vị trí (2b) diện tích 43m2, vị trí (1a) diện tích 2.7m2; Tổng cộng 50.8m2 theo mảnh trích đo địa chính số 12/CN.SHC ngày 24/3/2021.
- Ổn định cho bị đơn ông H phần đất tại vị trí (2a) diện tích 99.7m2 theo mảnh trích đo địa chính số 12/CN.SHC ngày 24/3/2021.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Th đối với bị đơn ông Liễu N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.
- Về án phí dân sự: Nguyên đơn ông Th và bị đơn ông H mỗi người phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
- Chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng số tiền tại cấp sơ thẩm là 4.060.000đ và cấp phúc thẩm là 5.000.000đ được phân chia theo trách nhiệm của các bên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 25 tháng 03 năm 2021.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hoàng Khải |
Bản án số 40/2021/DS-PT ngày 25/03/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 40/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Th khoi kiện yêu cầu ông H trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế với diện tích 232,1m2.
