Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG


Bản án số: 28/2022/DS-PT
Ngày: 15/02/2022
V/v “Hợp đồng đặt cọc”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Hữu Giàu.

Các Thẩm phán:

  • Bà Ngô Ngọc Phỉ;
  • Ông Trần Minh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mộng Cầm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 206/2021/TLPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2021 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 138/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh A bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 217/2021/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 12 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐ-PT ngày 18 tháng 01 năm 2022 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Tấn Đ, sinh năm 1953; nơi cư trú: Số 25, đường T, khóm 2, phường M, thành phố X, tỉnh A. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Tấn Đ: Ông Phạm Thành M, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 33 T, khóm B 7, phường B, thành phố X, tỉnh A. (Theo giấy ủy quyền ngày 12/01/2022). (Có mặt)

  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Phan Văn N, sinh năm 1961; (Có mặt)
    • 2.2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; (Có mặt)

    Cùng cư trú: Số 537/14C, đường H, phường Đ, thành phố X, tỉnh A.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Văn P, sinh năm 1954; là Luật sư của Văn phòng luật sư Lê Văn P – Thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. Địa chỉ: Số 32, đường D, phường M, thành phố X, tỉnh A. (Có mặt)

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bành Thị KH, sinh năm 1958; nơi cư trú: Số 23, đường T, khóm 2, phường M, thành phố X, tỉnh A. (Vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Bành Thị KH: Ông Phạm Thành M, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số 33 T, khóm B 7, phường B, thành phố X, tỉnh A. (Theo giấy ủy quyền ngày 12/01/2022). (Có mặt)

  4. Người kháng cáo: Ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung án sơ thẩm:

Trong Đơn khởi kiện ngày 12/5/2020 của nguyên đơn là ông Lê Tấn Đ; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Đ với tư cách là nguyên đơn và là người đại diện hợp pháp của bà Bành Thị KH trình bày:

Vào lúc 19 giờ, ngày 25/5/2019, tại Nhà hàng Vườn HP ông cùng vợ là bà Bành Thị KH có hẹn gặp ông N, bà H để thoả thuận việc mua bán nhà, đất tại địa chỉ số 844, đường H, khóm H, phường Đ, thành phố X, tỉnh A (gọi tắt là: Nhà đất số 844), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS05813 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 08/04/2016 có diện tích là 291,2m2 đất ở tại đô thị.

- Giá trị chuyển nhượng: Vợ chồng ông đồng ý nhận chuyển nhượng với giá mà ông N, bà H đề xuất là 78.000.000 đồng/m2 x 291m2 (tính chẵn) = 22.698.000.000 đồng.

- Phương thức thanh toán: Vợ chồng ông sẽ đổi cho ông N, bà H 01 căn nhà khác tại địa chỉ số 154A10, đường N, khóm B 2; với giá trị được hai bên thống nhất là 4.300.000.000 đồng, số còn lại sẽ được thanh toán bằng tiền mặt là 18.398.000.000 đồng.

- Thời hạn thanh toán: Ngày 29/5/2019 khi tiến hành công chứng hợp đồng và thanh toán. Do ông N, bà H cần tiền xoay sở gấp nên đã giao bản photo Giấy chứng nhận số CS05813 để vợ chồng ông có cơ sở kiểm tra thông tin, đồng thời yêu cầu được nhận trước tiền cọc là 500.000.000 đồng, số còn lại 17.898.000.000 đồng hẹn đến ngày 29/5/2019 tiến hành công chứng hợp đồng và thanh toán.

Tuy ông N, bà H chỉ cam kết nhà đất là hợp lệ mà không cung cấp thông tin gì thêm và giao bản photo Giấy chứng nhận số CS05813 cho vợ chồng ông kiểm tra thông tin. Do đó, ông đã tin tưởng đồng ý gọi người nhà mang tiền cọc đến giao đủ cho ông N, bà H trực tiếp nhận và ký tên “Biên nhận đặt cọc” có nội dung như đã thỏa thuận.

Ngày 27/5/2019, Phòng Quản lý Đô thị thành phố X cho ông biết nhà đất tuy không thuộc diện cấm chuyển nhượng nhưng có một phần diện tích khoảng vài chục mét vuông nằm trong quy hoạch làm đường của UBND thành phố X nên ông thông báo ngay cho ông N, bà H biết và yêu cầu thỏa thuận lại giá chuyển nhượng nếu không thì thưởng cọc cho ông. Lúc bấy giờ, ông N nói chưa biết đất quy hoạch diện tích bao nhiêu nên khó thương lượng lại giá chuyển nhượng và đề nghị ông chờ thêm một thời gian để ông N liên hệ Phòng Quản lý Đô thị thành phố X hỏi rõ diện tích quy hoạch cụ thể sẽ thỏa thuận lại giá chuyển nhượng; về số tiền nhận cọc 500.000.000 đồng thì ông N vừa xoay sở việc cá nhân, không kịp hoàn trả, xin được giữ lại để khấu trừ vào số tiền chuyển nhượng về sau.

Sau đó, rất nhiều lần ông liên hệ hỏi ông N về việc đã xin được kết quả quy hoạch chưa nhưng ông N vẫn nói đang chờ, khi nào có sẽ báo ngay. Đầu tháng 5/2020, ông tìm hiểu thông tin thì biết được trước đó ông N đã chuyển nhượng sang tên xong Nhà đất số 844 cho người khác nên ngày 09/5/2020, ông có gửi cho ông N, bà H “Thư đòi lại tiền đặt cọc mua nhà” yêu cầu trong vòng 03 ngày phải hoàn trả cho ông số tiền cọc đã nhận là 500.000.000 đồng. Tuy nhiên ông N, bà H vẫn không hoàn trả nên ông làm đơn khởi kiện tranh chấp đến nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H trong hạn luật định có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H và chứng cứ liên quan, Hội đồng xét xử xét thấy:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất vào lúc 19 giờ, ngày 25/5/2019 tại Nhà hàng Vườn HP, ông N, bà H đã thỏa thuận chuyển nhượng nhà, đất số 844 cho ông Đ, bà KH với giá là 22.698.000.000 đồng; phương thức thanh toán: Nguyên đơn sẽ đổi cho bị đơn 01 căn nhà tại địa chỉ số 154A10, đường N, khóm B 2 trị giá là 4.300.000.000 đồng, số còn lại sẽ được nguyên đơn thanh toán vào ngày 29/5/2019. Tại thời điểm giao kết hợp đồng hai bên thống nhất lập biên nhận đặt cọc số tiền là 500.000.000 đồng, biên nhận ghi rõ nếu bên nào có thay đổi không giao dịch đúng hẹn thì bồi thường gấp đôi.

...

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H.

Phúc xử:

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 138/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh A.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Lê Tấn Đ. Buộc bị đơn là ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Lê Tấn Đ và bà Bành Thị KH số tiền cọc đã nhận là 500.000.000 đồng và phạt cọc số tiền tương đương số tiền cọc là 500.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).
  2. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch cho ông Lê Tấn Đ. Buộc ông Phan Văn N và bà Nguyễn Thị H phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch số tiền là 42.000.000 đồng.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn N phải chịu 300.000 đồng, bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND cấp cao;
- VKSND AG;
- Phòng KTNV và THA;
- TAND huyện;
- THA huyện;
- Văn Phòng;
- Tòa Kinh tế;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)


Lưu Hữu Giàu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2022/DS-PT ngày 15/02/2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 28/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/02/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc; Nguyên đơn: Lê Tấn Đạt Bị đơn: Phan Văn Ngân; Nguyễn Thị Hồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger