Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH


Bản án số: 26/2022/DS - ST
Ngày: 31-5- 2022
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Đức Long

Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Khắc Hoan và bà Nguyễn Thị Hòe

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Nam, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà: ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2021/TLST – DS ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận QSD đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 420/2022/QĐ – ST ngày 02/3/2022 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Lê Thị T, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
    Người được bà T ủy quyền: ông Nguyễn Thế T, địa chỉ: số 23 đường L, phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt
  2. Bị đơn: bà Võ Thị Thu H, địa chỉ: Thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình;
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1 Uỷ ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Ngọc Đ, Chủ tịch; Đại diện theo ủy quyền: ông Lê Tuấn L, Phó trưởng phòng TN-MT thành phố Đ (Theo giấy ủy quyền số 69/QĐ-UBND ngày 10/01/2022) vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
    • 3.2 Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung C, chức vụ: Công chức địa chính xã, vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
    • 3.3 Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
    • 3.4 Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1998, nơi ĐKHKTT: thôn Tây Phú, xã Q Phú, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Hiện xuất cảnh nước ngoài; vắng mặt.
    • 3.5 Chị Lê Thị Hồng N, sinh năm 2002; nơi ĐKHKTT: thôn T, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Hiện xuất cảnh nước ngoài; vắng mặt.
    • 3.6 Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn B, xã Q, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 278, tờ bản đồ số 06 xã Q được cấp cho ông Nguyễn Văn T, ông T đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất với diện tích 780m2, sau đó chuyển nhượng lại cho gia đình bà Nguyễn Thị H do con là Lê Xuân Đ và Lê Thị Hồng N đứng tên với diện tích đo đạc lại là 710,6m2 thuộc thửa 531, tờ bản đồ số 08 xã Q theo Giấy chứng nhận QSD đất số CH000530 ngày 30/5/2013. Thửa đất này được tách thành 02 thửa là 531 và 532.

Ngày 29/12/2015, các con bà T là anh Đào Thanh Đ, chị Nguyễn Thị Mỹ L nhận chuyển nhượng QSD đất thửa 531, tờ bản đồ 08 xã Q của anh Lê Xuân Đ và chị Lê Thị Hồng N, việc chuyển nhượng được lập hợp đồng công chứng ngày 29/12/2015; Ngày 22/3/2016, anh Đ, chị L được UBND thành phố Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất số CD 102581 đối với thửa đất số 351, tờ bản đồ số 8, diện tích tích 171,3m2 tại xã Q, thành phố Đ;

Đến ngày 22/3/2016, anh Đ, chị L làm hợp đồng tặng cho bà thửa đất nói trên; Việc tặng cho đã hoàn thành và đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ làm thủ tục biến động chủ sử dụng tại tờ số 4, Giấy chứng nhận QSD đất số CD 102581.

Theo sơ đồ tại giấy chứng nhận QSD đất thì chiều ngang thửa đất (phía Bắc và phía Nam) là 7m, chiều dài (Đông, Tây) là 24,5m. Ranh giới sử dụng trên thực tế về phía Tây giáp với đất của bà Võ Thị Thu H, có hàng chè phân định từ trước.

Liền kề với thửa đất 531 mà bà đứng tên là thửa đất số 127, tờ bản đồ 08 xã Q của bà Võ Thị Thu H đang sử dụng. Đầu năm 2021, bà Võ Thị Thu H cho người phá bỏ hàng chè tàu phân định ranh giới để làm nhà, lấn sang phần đất của bà 02m về chiều ngang so với ranh giới phía Bắc. Việc này, bà T đã có ý kiến yêu cầu bà H không được lấn chiếm nhưng bà H vẫn thực hiện.

Theo kết quả đo đạc địa chính năm 2012, thửa đất của bà H (thửa đất số 127, tờ bản đồ số 8) thì cạnh phía Bắc chỉ dài 13,33m. Diện tích theo đo đạc là 336,2m2, tăng 5,2m2 so với diện tích trên giấy chứng nhận QSD đất của bà H; do đó bà H cho rằng bề ngang phía Bắc thửa đất có chiều dài hơn 14m là không có cơ sở.

Việc bà H xây dựng nhà ở lấn chiếm đất đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Võ Thị Thu H trả lại phần đất hình tam giác có diện tích tạm tính là 24,5m2 (cạnh bên của tam giác là ranh giới theo giấy chứng nhận QSD đất của bà T dài 24,5m, cạnh phía Bắc của tam giác là bề ngang phần đất mà bà H lấn chiếm 2m vào đất bà T); Buộc bà H xử lý các tài sản thuộc bà H trên phần đất lấn chiếm để trả lại nguyên trạng đất cho bà T; và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số BG 272305 ngày 10/8/2011 của UBND thành phố Đ đã cấp cho bà H tại thửa đất 127 tờ bản đồ số 8 xã Q, thành phố Đ.

Tại phiên tòa, bà T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà H phải trả lại cho bà chiều ngang cạnh phía Bắc giáp bà H 0,72m, chiều dài ranh giới theo giấy chứng nhận QSD đất của bà T dài 24,5m, và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất của bà H.

Bị đơn bà Võ Thị Thu H trình bày:

Thửa đất bà đang sử dụng có nguồn gốc trước đây là thửa số 279, tờ bản đồ số 6 xã Q, diện tích 460m2 trong đó đất ở là 200m2, đất vườn là 260m2, (nay là thửa 127, tờ bản đồ số 08 diện tích 336,2m2 tại xã Q, thành phố Đ, Quảng Bình), được UBND thành phố Đ cấp Giấy chứng nhận QSD đất lần đầu vào ngày 16/7/1998 mang tên chồng là ông Nguyễn Thế M. Sau khi chồng qua đời vào năm 2005, theo thỏa thuận của các thành viên trong gia đình, bà nhận được toàn quyền sử dụng thửa đất nói trên, và ngày 10/8/2011 được UBND thành phố Đ cấp đổi sang giấy chứng nhận QSD đất mang tên bà H. Theo giấy chứng nhận QSD đất này, thửa 127 có diện tích 330,6m2 (cạnh phía nam là 12,5m, cạnh phía Đông và phía Tây là 25m, cạnh phía Bắc là 14m), trong đó đất ở nông thôn 200m2, đất trồng cây lâu năm 130,6m2; tài sản trên đất là nhà ở có diện tích 200m2;

Ngày 21/01/2021, gia đình bà tiến hành xây dựng lại nhà ở do ngôi nhà cũ đã xuống cấp và được cấp giấy phép xây dựng, theo đó phần xây dựng tiếp giáp với lô đất của bà Lê Thị T, bà chỉ xây dựng trên nền móng nhà cũ. Tuy nhiên bà Lê Thị T liên tục cản trở việc xây dựng. Sự việc được báo cáo UBND xã Q, phía UBND xã đã về đo đạc, kiểm tra hồ sơ địa chính, khẳng định bà xây dựng đúng giấy phép trong phạm vi và chấp thuận tiếp tục cho bà triển khai xây nhà ở.

Bà H cho rằng: thửa đất của bà T số 351, tờ bản đồ số 8 là được tách từ thửa đất 278, tờ bản đồ số 6 trước đây (nay là thửa 128, tờ bản đồ số 08, diện tích 730,1m2). Theo bản đồ trích đo địa chính mới nhất năm 2014 thì thửa 128 có cạnh phía Bắc dài 27,71m, cạnh phía Nam dài 29,13m, cạnh phía Đông dài 25,61m, cạnh phía Tây dài 25,74m. Như vậy, thửa đất có hình bình hành, cạnh phía Bắc ngắn hơn cạnh phía Nam là 1,42m. Tuy nhiên, theo như 02 Giấy chứng nhận QSD đất đã được cấp đối với thửa 531, 532 (tách từ thửa 128) thì tổng cạnh phía Bắc là 29m, tổng cạnh phía Nam là 29m, lớn hơn so với bản đồ trích đo địa chính. Thửa đất của bà T vừa tiếp giáp với thửa đất của gia đình bà và gia đình ông Lê Xuân Đ, bà T cho rằng đất của mình bị thiếu thì có thể từ do sai số đo đạc từ thửa đất gốc và trong quá trình tách thửa này có thể là nguyên nhân khiến thửa đất bị thiếu diện tích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[...]

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 273; khoản 1 Điều 147; Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Áp dụng Điều 50 Luật đất đai 2003;

Áp dụng các Điều 97, 166, Điều 170 Luật đất đai 2013;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về việc buộc bà Võ Thị Thu H tháo dỡ, di dời các tài sản trên đất và trả lại phần đất hình tam giác có diện tích là 25,2m2 có vị trí: cạnh phía tây của thửa đất 127 dài 25,09m; Cạnh phía đông của thửa 127 dài 25,77m, cạnh phía Bắc giáp đường giao thông dài 1,96m theo Giấy chứng nhận QSD đất số BG 272305 ngày 10/8/2011 của UBND thành phố Đ đã cấp cho bà Võ Thị Thu H tại thửa đất 127 tờ bản đồ số 8 xã Q, thành phố Đ.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất số BG 272305 ngày 10/8/2011 của UBND thành phố Đ đã cấp cho bà Võ Thị Thu H tại thửa đất 127 tờ bản đồ số 8 xã Q, thành phố Đ.
  3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Định giá tài sản: Buộc bà Lê Thị T phải chịu chi phí thẩm định và định giá tài sản với số tiền là 3.800.000 đồng, công nhận bà T đã nộp đủ và chi xong trong quá trình giải quyết vụ án.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị T.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- Cục THADS tỉnh Quảng Bình;
- Chi cục THADS TP Đồng Hới;
- Lưu Hồ sơ; VP Tòa DS;
- Lưu VP Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ



(đã ký)


Trần Đức Long
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2022/DS - ST ngày 31/05/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 26/2022/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSD đất giữa Lê Thị T và Võ Thị Thu H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger