Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Bản án số: 209/2021/DS-PT
Ngày: 23/11/2021
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tào

Các thẩm phán: Ông Trương Công Thi và bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: Bà Bùi Thị Dung, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 232/TBTL-TA ngày 18 tháng 8 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2021/DS-PT ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 352/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn T; cư trú: Khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Văn N; cư trú: Khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn Đ (Trần Đ), ông Trần Văn T, bà Mai Thị L, bà Phan Thị H; cùng cư trú: Khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Ông Đ, có mặt. (ông Trần Văn T, bà Mai Thị L, bà Phan Thị H, Vắng mặt). Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị H: Ông Trần Văn T cư trú: Khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị (văn bản ủy quyền ngày 02/4/2021). Vắng mặt.
  2. Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Quảng Trị; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đăng A - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện G (văn bản ủy quyền ngày 25/3/2021). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/12/2014, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Ngày 19/9/2012, ông Trần Văn T được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện G cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BK 061418 theo Quyết định cấp đất số 2735/QĐ-UBND với diện tích 341m2 (nguồn gốc đất là do ông T nhận chuyển nhượng lại từ ông Trần Văn T). Đất có vị trí: Phía N giáp đường khu vực rộng 9,09m, phía Bắc giáp đất của ông Trần Văn T rộng 17,31m, phía Tây giáp đất của ông Trần Văn N dài 25,84m, phía Đông giáp đất của ông Trần Văn T dài 26,25m. Sau khi được cấp GCNQSDĐ thì ông phát hiện ông Trần Văn N lấn chiếm toàn bộ diện tích đất mà ông nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T là 341m2. Sự việc này đã được UBND thị trấn G hòa giải ở cơ sở nhưng không có kết quả. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Văn N phải trả lại diện tích đất mà ông N đã lấn chiếm của ông là 341m2.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Trần Văn N trình bày:

Nguồn gốc đất mà ông đang sử dụng trước đây do Hợp tác xã Lạc Tân giao cho bố ông là ông Trần Văn Đ sử dụng, canh tác, sản xuất từ năm 1982 đến nay. Gia đình ông đã làm tròn nghĩa vụ với Hợp tác xã và Nhà nước theo quy định của pháp luật. Ông Trần Văn Đ đã trồng cây ở phía Đông thửa đất, có hàng rào cây xanh làm ranh giới liền kề với hộ ông Tràn Văn T. Năm 2001, ông lập gia đình, bố ông đã làm thủ tục tặng cho ông toàn bộ diện tích thửa đất. Năm 2002, ông làm 01 gian nhà dọc nối với bếp và đào 01 giếng nước. Năm 2008, ông xây dựng thêm chuồng heo và nhà tắm. Năm 2009, xây thêm chuồng bò và trồng cây cối trên đất. Quá trình xây dựng các công trình trên đất đều tuân thủ theo ranh giới cũ và không có ai tranh chấp, bà con trong xóm đều thừa nhận. Năm 2012, ông T mới nhận chuyển nhượng đất từ ông Trần Văn T, như vậy các công trình ông xây dựng trên đất có trước khi ông T chuyển nhượng đất cho ông T. Đến năm 2014 ông T đã căn cứ trên GCNQSDD do UBND huyện G cấp và cho rằng ông lấn chiếm đất. Ông T đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông phải trả lại đất cho ông Thu là không có cơ sở. Do ông T khởi kiện ông lấn chiếm đất nên ông mới biết Quyết định hành chính cấp GCNQSDĐ cho ông T đã chồng lên đất của ông đang sử dụng hợp pháp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, ông yêu cầu Tòa án xem xét hủy Quyết định số 2735/QD-UBND ngày 19/9/2012 của UBND huyện G đã cấp đất cho ông Trần Văn T.

Tại Công văn số 936/UBND-TN ngày 19/7/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện G trình bày:

Quá trình đo đạc, thành lập bản đồ địa chính từ năm 1998 của Trung tâm kỹ thuật địa chính (tỉnh Quảng Trị) đối với thửa đất số 124, tờ bản đồ số 15 tại thị trấn G với diện tích 341m2 đất màu của ông Trần Văn T là không đúng với vị trí, hiện trạng, diện tích sử dụng đất. Trên cơ sở đó, dẫn đến việc UBND huyện G cấp GCNQSDĐ cho ông Trần Văn T (nhận chuyển nhượng từ ông Trần Văn T) từ trên kết quả đo vẽ này là không đúng với vị trí, hiện trạng, diện tích sử dụng đất. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Xét thấy:

[1] Xét kháng cáo của ông Trần Văn N, nhận thấy:

[1.1] Về tố tụng: Xét thấy trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự và được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị xác định tại phiên tòa sơ thẩm ngày 07/7/2021: “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án...”. Do đó, ông N kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là không có căn cứ.

[1.2] Về nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất:

[1.2.1] Xét thấy, diện tích đất tranh chấp giữa ông Trần Văn T và ông Trần Văn N thuộc thửa số 124, tờ bản đồ số 15, tại thị trấn G, huyện G có nguồn gốc là của ông Trần Văn T được UBND huyện G, tỉnh Quảng Trị cấp GCNQSD đất có số vào sổ 00094/QSDĐ/287-QĐ/UB ngày 06/7/1999, có diện tích 341m2. Theo lời khai của ông T và ông T thì vào khoản năm 2003-2004, ông T chuyển nhượng cho ông T thửa đất này, nhưng đến ngày 03/12/2012 hai bên mới lập hợp đồng chuyển nhượng, ông T tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Bác kháng cáo của ông Trần Văn N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T. Buộc ông Trần Văn N phải di dời toàn bộ tài sản, công trình, cây cối trên đất để trả lại quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T có diện tích 243,5m2, tại thửa đất số 124, tờ bản đồ số 15, tại khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Quảng Trị có các cạnh như sau:
    • Cạnh phía Đông giáp đất ông T có chiều dài 26,33m.
    • Cạnh phía Bắc giáp đất ông T có chiều dài 9,40m.
    • Cạnh phía Tây giáp đất ông N có chiều dài 26,33m.
    • Cạnh phía N giáp đường khu vực có chiều dài 8,34m.
  3. Chi phí thẩm định tại chỗ: ông Trần Văn N phải hoàn trả cho ông Trần Văn T số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 6.906.000 đồng.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSDNCC tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
- Đương sự;
- Lưu HCTP, hồ sơ vụ án (ĐTT).
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



(Đã ký)

Nguyễn Văn Tào
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2021/DS-PT ngày 23/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 209/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/11/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo của ông Trần Văn N; giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger