|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG --------------------- |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------------- |
Bản án số: 19/2021/DSPT
Ngày 31 tháng 3 năm 2021
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Chí Trung
Các Thẩm phán: Bà Mai Vương Thảo, Ông Cao Văn Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Cán bộ TAND TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Trâm - Kiểm sát viên, tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 30 và 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2011/DS-PT ngày 09 tháng 11 năm 2011 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số: 260/2011/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 09/2021/QĐ-PT-DS ngày 18 tháng 01 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2021/QĐPT ngày 29/01/2021 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 17/2021/QĐPT-DS ngày 01 tháng 3 năm 2021 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thanh H, sinh năm: 1969.
Địa chỉ khởi kiện: K X/19, đường T, thành phố Đà Nẵng.
Địa chỉ hiện nay: K X/34, đường K, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H, sinh năm: 1963.
Địa chỉ: Số X4 đường H, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Dương Quốc T, sinh năm: 1964 và bà Đoàn Thị H, sinh năm: 1965.
Cùng địa chỉ: Số X/8, đường Đ, quận C, thành phố Đà Nẵng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: UBND phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng.
- Người kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị Thanh H; ông Dương Quốc Th - bà Đoàn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Đại diện nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 325, tờ bản đồ số 9, diện tích 105m² tại xã P (cũ) nay là tổ X9, phường P, quận C được UBND huyện V (cũ) cấp giấy chứng nhận QSDĐ số B 17663 ngày 06/2/1998, diện tích 105m² đứng tên bà Phan Thị Thanh H. Từ đó đến nay bà H vẫn quản lý, sử dụng và làm đầy đủ nghĩa vụ cho nhà nước theo quy định của pháp luật.
Năm 2007 bà H được UBND quận C cấp giấy phép xây dựng tại thửa đất nói trên nhưng ông T và bà Thị H đã xây dựng ngôi nhà cấp 4 và đang sinh sống trên đó. Bà H làm đơn gửi UBND quận C thì được trả lời ngày 5/12/1999 là bà H có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Th và bà Thị H được UBND xã P xác nhận. Bà H khẳng định là bà không ký văn bản nào theo quy định của pháp luật và bà H cũng không nhận tiền bạc hoặc tài sản gì có giá trị bằng tiền từ vợ chồng ông T và bà Thị H để chuyển nhượng thửa đất nói trên. Bà H yêu cầu Tòa án buộc ông T và bà Thị H tháo gỡ nhà, trả lại cho bà H diện tích đất nói trên.
- Bị đơn ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H trình bày:
Vào năm 1993 chúng tôi được UBND huyện V (cũ) cấp cho một lô đất có diện tích 132m². Đến năm 1994, 1995 giải tỏa đường Đ thì UBND xã P (cũ) thu hồi hết diện tích 132m² đất của vợ chồng tôi. Sau khi bị thu hồi UBND xã bố trí cho vợ chồng tôi một lô đất khác. Vợ chồng tôi không biết UBND xã P làm việc như thế nào với bà H mà bà H đồng ý chuyển nhượng diện tích đất 105m², số thửa 325, tờ bản đồ số 9, tại xã P cho vợ chồng tôi. Vợ chồng tôi và bà H có mặt ký hợp đồng chuyển nhượng, bà H có đơn xin chuyển nhượng đất cho chúng tôi. Khi chuyển nhượng không đưa tiền vì đây là đất do UBND xã đổi cho chúng tôi và bố trí lại cho bà H một lô đất khác. Nay bà H yêu cầu vợ chồng tôi tháo gỡ nhà để trả lại đất cho bà H vợ chồng tôi không đồng ý.
- UBND phường P trình bày:
Ngày 05 tháng 12 năm 1999 vợ chồng ông T nhận chuyển nhượng của bà Phan Thị Thanh H lô đất diện tích 105m², thuộc tổ X9, phường P để làm nhà ở được Ủy ban nhân dân xã P ký ngày 14 tháng 12 năm 1999. Tại thời điểm đó không biết lý do gì mà ông T không đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông T làm nhà và thực hiện nghĩa vụ thuế nhà đất nhưng mang tên bà H. Việc bà H cho rằng bà H nộp thuế đất từ năm 2000 là không đúng mà vợ chồng ông T là nộp. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Ngày 28 tháng 7 năm 2010 bà Phan Thị Thanh H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận C, thành phố Đà Nẵng buộc ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H tháo gỡ phần nhà trên đất để giao trả lô đất 105m², thửa đất số 325, tờ bản đồ số 09, tại xã P (cũ) nay là X/8, đường Đản, tổ X9, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng, cho bà H quản lý sử dụng.
[2] Tại Bản án sơ thẩm (lần 2) số: 260/2010/DSST ngày 22 tháng 9 năm 2011, Tòa án nhân dân quận C đã giao cho ông T-bà Thị H sử dụng diện tích đất các bên tranh chấp. Đồng thời buộc ông T-bà Thị H có nghĩa vụ thối trả cho bà H 30% giá trị 105m² đất nói trên.
[3] HĐXX thấy: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bà H và bà H đều xác nhận là bà H yêu cầu Tòa án buộc ông T-bà Thị H tháo gỡ phần xây dựng nhà trên lô đất đang tranh chấp, giao trả toàn bộ diện tích đất cho bà H sử dụng là phù hợp với “Đơn khởi kiện về việc chiếm hữu, sử dụng đất bất hợp pháp” của bà H gửi Tòa án nhân dân quận C ngày 28 tháng 7 năm 2010. Như vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
[6] Đối với yêu cầu “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thì thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm lần này, bà Phan Thị Thanh H và ông Dương Quốc T-bà Đoàn Thị H thống nhất thỏa thuận như sau:
- Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H được quyền sử dụng 105m² đất tại thửa số 325, tờ bản đồ số 09, tại xã P (cũ) nay là số X/8, đường Đ, tổ X9 phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng theo “Hợp đồng chuyển nhượng đất” giữa bà Phan Thị Thanh H với ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H ngày 05 tháng 12 năm 1999.
- Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà-đất tại số X/8 đường Đ, tổ X9, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng.
- Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H hỗ trợ cho bà Phan Thị Thanh H số tiền: 40.000.000đ. Các bên giao nhận vào ngày 15 tháng 4 năm 2021.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 300; khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh về án phí và lệ phí tòa án.
1/ Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Phan Thị Thanh H với ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” như sau:
1.1 Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H được quyền sử dụng 105m² đất tại thửa số 325, tờ bản đồ số 09, tại xã Phát (cũ) nay là số X/8 đường Đ, tổ X9, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng theo “Hợp đồng chuyển nhượng đất” giữa bà Phan Thị Thanh H với ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H ngày 05 tháng 12 năm 1999.
1.2 Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với nhà-đất tại số X/8, đường Đ, tổ X9, phường P, quận C, thành phố Đà Nẵng.
1.3 Ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H hỗ trợ cho bà Phan Thị Thanh H số tiền: 40.000.000đ. Các bên giao nhận vào ngày 15 tháng 4 năm 2021.
2/ Chi phí định giá: Bà Phan Thị Thanh H phải chịu: 1.967.000đ. Số tiền này bà Hoa đã nộp, đã chi.
3/ Án phí DSST: Bà Phan Thị Thanh H phải chịu 200.000đ, được trừ vào 2.000.000đ tạm ứng án phí bà H đã nộp. Hoàn cho bà Phan Thị Thanh H 1.800.000đ.
4/ Án phí DSPT: Bà Phan Thị Thanh H, ông Dương Quốc T và bà Đoàn Thị H không phải chịu án phí DSPT.
|
Nơi nhận: - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND quận C; - Chi cục THADS quận C; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Chí Trung |
Bản án số 19/2021/DSPT ngày 31/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 19/2021/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/03/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất"
