Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 180/2021/DS-PT
Ngày 26-11-2021
V/v tranh chấp tài sản chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng, Bà Đinh Thị Mộng Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hà Nhung – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 26 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 393/2020/TLPT-DS, ngày 26 tháng 11 năm 2020 về “tranh chấp tài sản chung”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2021/QĐPT-DS, ngày 26 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Võ Thị K, sinh năm 1964; trú tại: Số 40/87, khu phố 1, phường Phú C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  • Bị đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1959; trú tại: Số 106, tổ 1, khu phố Phú H, phường Hòa L, thị xã B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Thôn 7, xã Đ, huyện Đạ H, tỉnh Lâm Đồng; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1955; trú tại: Khu phố Phú H, phường Hòa L, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
    2. Ông Võ Văn S, sinh năm 1979; trú tại: Khu phố 6, phường Định Hòa, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
    3. Ông Võ Văn M, sinh năm 1982;
    4. Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1983;
    5. Ông Võ Văn Đ1, sinh năm 1986;
    6. Bà Võ Thị Hoàng H2, sinh năm 1989;
    7. Bà Võ Thị Kim H3, sinh năm 1994;
    8. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1950; trú tại: Tổ 1, khu phố Phú H, phường Hòa L, thị xã B, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
    9. Ủy ban nhân dân thị xã B; trụ sở: Đường 30/4, khu phố 2, phường Mỹ Phước, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
    10. Văn phòng Công chứng B; địa chỉ: Đường NE8, Khu Đô thị và Công nghiệp Mỹ Phước 3, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
  • - Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Võ Thị K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày: Về quan hệ huyết thống: Bà Võ Thị K là con cụ Võ Văn Ch và cụ Lê Thị B1. Cụ Ch, cụ B1 có 03 người con chung là: Ông Võ Văn H4, bà Võ Thị H1 và bà Võ Thị K. Ông Võ Văn H4 chết năm 2009, có vợ là bà Bùi Thị H và 06 người con chung.

Cụ Ch và cụ B1 chết để lại phần đất và nhà có diện tích 1.403m2. Năm 1999, anh em thỏa thuận đồng ý để ông H4 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2008 ông H4 bị bệnh, các anh em đồng ý cho ông H4 chuyển nhượng 242m2 để có tiền chữa bệnh, diện tích còn lại là 1.161m2. Ngày 21/9/2009, ông H4 chết, bà Bùi Thị H quản lý, sử dụng. Ngày 28/12/2009, các bên lập giấy cam kết gìn giữ đất hương quả. Tuy nhiên sau đó bà H đã làm thủ tục chuyển tên và chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho bà Nguyễn Thị B mà không được sự đồng ý của bà K và bà H1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét nguồn gốc đất tranh chấp có nguồn gốc của cha mẹ để lại. Mặc dù ông H4 đứng tên trên giấy chứng nhận nhưng các chứng cứ cho thấy đây là tài sản chung của các thừa kế. Việc bà H tự ý chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất còn lại cho bà B mà không thông qua ý kiến của bà K và bà H1 là ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác.

[2.6] Cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận chia cho bà K 25% giá trị tài sản là chưa phù hợp. Cần xem xét tính công sức quản lý, gìn giữ tài sản của bà H là 10%, còn lại 90% chia đều cho 3 kỷ phần (bà H, bà K, bà H1). Do bà H1 từ chối nhận nên phần của bà H1 thuộc về bà H. Tổng cộng bà H được hưởng 70%, bà K được hưởng 30% giá trị tài sản tranh chấp.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị K. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2020/DS-ST ngày 01/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.

1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị K đối với bị đơn bà Bùi Thị H về việc “Tranh chấp tài sản chung”.

  • Bà Võ Thị K được chia 30% giá trị thửa đất số 1637, tờ bản đồ số 36 có diện tích 350,1m2 tại phường Hòa L, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
  • Bà Bùi Thị H được chia là 70% giá trị thửa đất nêu trên.
  • Buộc bà Bùi Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho bà Võ Thị K số tiền 1.725.450.000 đồng.

1.2. Không chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Bùi Thị H và bà Nguyễn Thị B.

2. Về chi phí tố tụng và án phí: Bà Võ Thị K được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm do là thân nhân liệt sĩ và có đơn xin miễn giảm.

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS thị xã B;
- TAND thị xã B;
- Các đương sự (để thi hành);
- Tổ Hành chính Tư pháp;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




(Đã ký)
Nguyễn Ngọc Mai
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 180/2021/DS-PT ngày 26/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về tranh chấp tài sản chung

  • Số bản án: 180/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị K - Bùi Thị H tranh chấp về tài sản chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger