Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 15/2021/HS-ST
Ngày: 21-9-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Trúc Phương
2. Ông Nguyễn Minh Ngọc

- Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:Trần Thu Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/HSST-QĐ ngày 09 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Thanh S (S Heo) - sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; con ông: Lê Văn T, sinh năm 1957 và bà Trương Thị T, sinh năm 1954; vợ: Nguyễn Thị Hồng Đ, sinh năm 1984; con 03 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2010. Tiền án: Ngày 24/11/2008, Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên 03 năm tù giam về tội Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, đã được xóa án tích. Tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/4/2021 đến nay.
  2. Họ và tên: Nguyễn Quốc V - sinh năm 1983. Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Xuân C, sinh năm 1957 và bà Đặng Thị T, sinh năm 1962; vợ: Trần N, sinh năm 1987 (đã ly hôn); con: Nguyễn Thị Minh V, sinh năm 2011. Tiền án: 01. Ngày 24/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bình Phước xử phạt 01 năm 03 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 18/9/2019, chưa được xóa án tích. Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/3/2021 đến nay. (Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

  1. Vũ Thị Mỹ P - sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
  2. Phan Ngọc Đ - sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt). Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Lê Thanh S đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T cùng với đồng phạm khác, cụ thể như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/12/2020, Lê Thanh S sử dụng xe mô tô mang nhãn hiệu YAMAHA có gắn biển kiểm soát 61N1-9748 chở Nguyễn Quốc V đi trộm cây mai để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, S và V phát hiện 01 (một) cây mai vàng có đặc điểm có hoành thân nơi lớn nhất 50cm, chiều cao thân cây mai 95cm trồng trong vườn nhà chị Phan Ngọc Đ. V và S đi vào hàng rào rồi cùng nhau nhổ lắc gốc mai, dùng lưỡi cưa S đã chuẩn bị sẵn từ trước cưa bỏ ngọn và cùng khiêng cây mai ra ngoài hàng rào, rồi để lên xe mô tô, V ngồi phía sau giữ cây mai, S chạy xe cùng chở đi tiêu thụ. Khi đi đến đoạn đường thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang thì bị người dân và tổ tuần tra của Công an xã Tân Hòa bắt quả tang.

Trong thời gian Cơ quan điều tra yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá trị giá cây mai mà Lê Thanh S và Nguyễn Quốc V trộm cắp thì S tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vụ thứ hai như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 01/01/2021, bà Vũ Thị Mỹ P là người quản lý nhà trẻ của Giáo xứ Trung Thành, thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang phát hiện bị mất trộm một số tài sản gồm: 01 Tivi hiệu TCL, 01 CPU máy tính, 01 bàn phím, 01 chuột máy tính, 01 âm li, 01 quạt hơi nước, 01 màn hình vi tính.

Qua công tác xác minh, điều tra, Lê Thanh S thừa nhận thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản trong ngày 01/01/2021 cùng Nguyễn Hoàng Công L. L dùng xe máy chở S đến cổng sau nhà thờ rồi trèo qua cánh cửa sổ để vào mở cửa cho S. Sau khi L và S lấy trộm các tài sản trên, L chở S ngồi sau ôm đồ vừa trộm được về nhà cất giấu tại phòng của S và Lê Thị Ngọc G.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, kết luận điều tra, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Lê Thanh S và Nguyễn Quốc V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh S và bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: bị cáo Lê Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/4/2021.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; Điều 38; khoản 1 Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V 01 (một) năm tù giam. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/3/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) lưỡi cưa bằng kim loại màu trắng có chiều dài 32 cm.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thanh S và Nguyễn Quốc V mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

* Nơi nhận:
- TAND tỉnh Kiên Giang;
- VKSND huyện T ;
- Chi cục THADS huyện T ;
- Công an huyện T ;
- Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Văn Chiến
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2021/HS-ST ngày 21/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thanh S và bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: bị cáo Lê Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V 01 (một) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger