|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI ----------------- Bản án số: 15/2021/DS-ST Ngày: 09/11/2021 V/v “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” Và “Yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Quốc Thân
- Bà Nguyễn Thị Kim Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến - Kiểm sát viên
Vào ngày 09/11/2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 88/2021/TLST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2020 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” và “Yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-DS ngày 18/10/2021 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Số 49, đường 14, khu phố T, phường X, thành phố L, Đồng Nai.
- - Bị đơn: Ông Huỳnh Văn D, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Số 43, đường 04, khu phố T, phường X, thành phố L, Đồng Nai.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ, liên quan:
- Bà Trần Thị T2, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Số 43, đường 04, khu phố T, phường X, thành phố L, Đồng Nai.
- Bà Hoàng Thị Cẩm T1, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Số 49, đường 14, khu phố T, phường X, thành phố L, Đồng Nai.
Đại diện theo uỷ quyền của bà T1: ông Nguyễn Thanh L, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Số 49, đường 14, khu phố T, phường X, thành phố L, Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 05/4/2021). (ông L, ông D, bà T1, bà T2 có mặt phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 04/5/2020; đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 14/10/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh L trình bày:
Vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Hoàng Thị Cẩm T1 là chủ quản lý, sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất 142,2 m2 thuộc thửa đất số 115, tờ bản đồ số 06 phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nguồn gốc đất do vợ chồng nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị Thùy T vào năm 2020. Đất đã được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 783884 ngày 12/02/2020 cho ông L, bà T1. Trước đó, bà T nhận sang nhượng lại của ông Nguyễn Xuân K và bà Bùi Thị D, trú tại: tổ 6, khu phố 8B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị T2 có nhà ở đối diện thửa đất của ông L, hai bên cách nhau một con đường. Trước đây, do ông K không ở trên đất nên ông D đã tự ý làm một chòi tạm dựng bằng cây trên đất của ông K để chứa đồ vì thời gian này ông D đang sửa nhà. Do ông K ở xa nên sau đó ông D tiếp tục xây dựng một căn nhà nhỏ bằng gạch trên một phần thửa đất của ông K kích thước rộng gần 2,5m x dài gần 7m, diện tích là 15,6m2.
Khi phát hiện sự việc, ông K, bà D đã khởi kiện lên Tòa án nhân dân thị xã L (nay là Tòa án nhân dân thành phố L). Tuy nhiên, do sau đó ông K, bà D có nhu cầu chuyển nhượng lại thửa đất trên nên ông bà rút đơn khởi kiện và tiến hành sang nhượng cho bà Trương Thị Thùy T. Sau đó, bà T sang nhượng lại cho vợ chồng ông L.
Việc ông D tự ý xây nhà trên thửa đất của người khác trong khi thửa đất này đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông. Nay ông L, bà T yêu cầu ông D, bà T trả lại diện tích đất 14,5m2 được giới hạn bởi các điểm (a,b,c,d) theo bản trích lục và đo vẽ số 3696/2020 ngày 21/9/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh Long Khánh thuộc một phần thửa đất số 115, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L và buộc ông D, bà T phải tháo dỡ, di dời một phần nhà kho trên diện tích đất 14,5m2 nói trên.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn - ông Nguyễn Văn D trình bày: Năm 2005, gia đình ông có xây nhà kho nói trên trên hầm chứa nước tập thể của Công ty C. Theo ông D ranh đất của chủ đất cũ là ông Nguyễn Xuân K không lấn vào nhà kho nên vợ chồng ông không đồng ý trả, vợ chồng ông L không có quyền đòi lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật: Đây là vụ liện “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” và “Yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất”, căn cứ khoản 9 Điều 26 và Điều 35 thì vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Long Khánh.
[2] Tư cách tham gia tố tụng: ông Nguyễn Thanh L là nguyên đơn, ông Huỳnh Văn D là bị đơn trong vụ án.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện: Nguồn gốc thửa đất có tranh chấp trước đây thuộc quyền quản lý của Xí nghiệp chế biến gỗ thuộc Tổng Công ty C. Đến năm 2004, Tổng Công ty C bán hóa giá nhà cho ông Nguyễn Xuân K và bà Bùi Thị D. Ngày 18/6/2019, ông K, bà D chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Trương Thị Thùy T. Sau đó, bà T làm thủ tục tách thửa và chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh L. Ngày 12/02/2020, ông L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 783884 đối với thửa đất số 115, tờ bản đồ số 06, phường X, diện tích 142,2m2.
Theo bản trích lục và đo vẽ số 3696/2020 ngày 21/9/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai – Chi nhánh L một phần nhà kho đã lấn vào đất của ông L được giới hạn bởi các điểm (a,b,c,d) có diện tích 14,5m2 thuộc một phần thửa đất số 115, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L. Vì vậy, ý kiến của ông D về việc phần đất xây nhà kho không lấn vào đất của ông L là không có cơ sở. Và ý kiến của ông L, bà T1 yêu cầu ông D, bà T2 trả lại diện tích đất 14,5m2 và tháo dỡ một phần nhà kho trên phần đất nói trên là có cơ sở chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 và khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 105, 158, 163, 164, 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166, 202, 203 Luật đất đai 2013; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh L.
- Buộc ông Huỳnh Văn D, bà Trần Thị T2 phải trả lại cho ông Nguyễn Thanh L, bà Hoàng Thị Cẩm T1 diện tích đất 14,5m2 được giới hạn bởi các điểm (a,b,c,d) theo bản trích lục và đo vẽ số 3696/2020 ngày 21/9/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh L, thuộc một phần thửa đất số 115, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L.
- Buộc ông D, bà T2 phải tháo dỡ, di dời một phần nhà kho trên diện tích đất 14,5m2 nói trên.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông L, bà T1 về việc hỗ trợ chi phí xây dựng và chi phí tháo dỡ, di dời nhà kho cho ông D, bà T2 với số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Long Khánh; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Lưu án văn; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Hải |
Bản án số 15/2021/DS-ST ngày 09/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Số bản án: 15/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ công trình xây dựng trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
