Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 14/2022/DS-PT
Ngày 18-01-2022
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm;
Các Thẩm phán: Bà Trương Tố Hương; Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Quyên, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 11 và 18 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2021/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2021, về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2021/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 202/2021/QĐ-PT ngày 24 tháng 11 năm 2021, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Lê Mộng T; Địa chỉ cư trú: Số 37, đường Đ, khu vực 1, Phường X, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
  • Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N; địa chỉ cư trú: Số 367/45, Quốc lộ 1A, khóm 1, Phường Y, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo Giấy ủy quyền ngày 25 tháng 02 năm 2021). (có mặt)
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Hoàng A, Luật sư của Văn phòng luật sư H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Trần Khánh V; Địa chỉ cư trú: Số 212, đường L, khóm 1, Phường N, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  • Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Hồng T1; địa chỉ cư trú: Số 12A, đường Kênh 30/4, khóm 6, Phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 18 tháng 02 năm 2021). (có mặt)
  • - Người kháng cáo: 1. Bà Lê Mộng T - Nguyên đơn; 2. Ông Trần Khánh V - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 01 năm 2021 của nguyên đơn bà Lê Mộng T và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N trình bày:

Vào ngày 12/12/2020, bà Lê Mộng T và ông Trần Khánh V có đến Văn phòng Công chứng T để ký kết hợp đồng đặt cọc nhằm thỏa thuận bà T sẽ chuyển nhượng cho ông V phần đất tại thửa số 1, tờ bản đồ số 29, diện tích 379,0m2, tọa lạc khóm 2, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Do không có công chứng viên nên Văn phòng công chứng hẹn đến ngày 14/12/2020 mới công chứng được hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, ông V yêu cầu cho biết ranh đất và bà T có chỉ ranh cho ông V, ông V đòi phá hàng rào nhưng bà T không đồng ý. Tuy nhiên, ông V lại cho xe vào phần đất đập phá hàng rào. Do quá bức xúc, bà T đề nghị hủy hợp đồng.

Nay bà T yêu cầu Toà án giải quyết: Hủy hợp đồng đặt cọc đã được ký kết giữa bà với ông Trần Khánh V tại Văn phòng công chứng T, hợp đồng số CC: 5384 quyển số 04 ngày 12/12/2020 và được sở hữu số tiền 1.000.000.000 đồng mà ông V đã đặt cọc.

Bị đơn ông Trần Khánh V có đơn phản tố yêu cầu bà T phải trả lại số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng và phạt cọc 1.000.000.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo về mặt hình thức và nội dung, đúng quy định pháp luật.

[2] Xét nội dung vụ án: Hội đồng xét xử nhận thấy lỗi dẫn đến việc không ký kết được hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là từ phía ông V. Ông V đã không thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng, thường xuyên không nghe máy khi bà T liên hệ để thực hiện thủ tục công chứng. Trong khi đó, bà T đã có thiện chí, chuẩn bị sẵn hợp đồng và chờ đợi tại văn phòng công chứng.

[3] Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà T về việc hủy hợp đồng đặt cọc và sở hữu số tiền đặt cọc là có căn cứ. Cấp sơ thẩm tuyên buộc bà T trả lại tiền cọc là không phù hợp với quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Mộng T. Hủy Hợp đồng đặt cọc giữa ông Trần Khánh V và bà Lê Mộng T được công chứng vào ngày 12 tháng 12 năm 2020 tại Văn phòng công chứng T, số công chứng: 5384 quyển số: 04. Số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) thuộc về bà Lê Mộng T.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Khánh V về việc buộc bà Lê Mộng T trả lại tiền đặt cọc và tiền phạt cọc.
  3. Về án phí: Ông Trần Khánh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND Tp. Sóc Trăng;
- VKSND tỉnh Sóc Trăng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Hoàng Lâm
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2022/DS-PT ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 14/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/01/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Mộng T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà với ông Trần Khánh V và được sở hữu số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng. Ông Trần Khánh V yêu cầu phản tố buộc bà T trả lại tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng và tiền phạt cọc 1.000.000.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger