|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 118/2022/DS-PT Ngày: 31/5/2022 V/v tranh chấp: "Quyền sử dụng đất" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thanh Nhàn.
- Bà Nguyễn Ái Đoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Liêm, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Quang, Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 259/2021/TLPT-DS ngày 23 tháng 11 năm 2021 về tranh chấp "Quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 134/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 306/2021/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979;
Địa chỉ: ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim P, sinh năm 1987. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, Tiền Giang (có mặt).
* Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa chỉ: ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Dương, luật sư thuộc Văn phòng luật sư Nguyễn Văn D, Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc K, Chủ tịch HĐTV
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Phi C, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh thị xã G, tỉnh Tiền Giang (Xin vắng mặt). - Bà Võ Thị C, sinh năm 1947 (Xin vắng mặt);
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1977 (Xin vắng mặt);
- Chị Phan Thị Mỹ L, sinh năm 1982 (Xin vắng mặt);
- Nguyễn Thị Thảo V, sinh năm 2006;
- Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 2007;
- Nguyễn Quốc A, sinh năm 2012
Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo pháp luật của cháu V, cháu N và cháu A: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967 (xin vắng mặt);
- Chị Phạm Thị Kim T1, sinh năm 1998 (xin vắng mặt);
- Anh Phạm Hoàng Ngọc M, sinh năm 1989 (xin vắng mặt);
- Chị Tạ Thị L, sinh năm 1992 (xin vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
* Người kháng cáo: Bị đơn Phạm Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
* Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2020 của ông Nguyễn Văn Q và trong quá trình tố tụng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn Q có quyền sử dụng đất thửa số 101, tờ bản đồ BXC4, diện tích 2.989m2 loại đất ở và cây hàng năm khác (300m2 đất ở) tại ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang do Ủy ban nhân dân thị xã G cấp ngày 22/8/2011. Nguồn gốc đất của cha mẹ ông Q nhận chuyển nhượng của bà Phạm Thị P và ông Nguyễn Văn M trước năm 1975, đến năm 1980 bà Phiến mới giao đất cho gia đình ông Q, sau đó cha mẹ ông Q tặng cho ông. Thửa đất 101, lúc này vừa có đất nền, vừa có đất lá, trũng, phía con rạch Miễu có đổ nước vào vùng trũng hướng Đông thửa đất để trồng lá xé. Người dân có đi nhờ trên thửa đất 101 nên cha ông có cho đắp đường đi nhờ giáp đường đất trũng trồng lá, sau này đất được hiến để mở đường đan. Ranh hướng Đông thửa đất giáp đất của ông Phạm Văn H, bên ông H cũng trồng lá giáp ranh. Ông H thường xuyên chuốt chổi nên có đổ lá lấp dần phần diện tích vùng trũng, đồng thời do thửa đất bị bao đê, rạch Miễu không dẫn nước vào nên cây lá xé bị khô và chết, sau này ông H ban luôn vùng trũng giáp đất của ông H lấn chiếm phần diện tích đất này của gia đình ông Q để trồng cỏ. Do đất trũng nên gia đình của ông Q để đất chưa sử dụng. Trước đây nhà ông H ở hướng Đông, thời gian sau ông cất nhà lại quay về hướng giáp phần đất tranh chấp giữa ông Q và ông H, ông H xây đường đan trên đất ông Q làm lối đi, ông Q không biết do ông Q đi làm ăn xa. Hiện nay, phần diện tích thửa 101 bị ông H lấn chiếm có diện tích khoảng 497m2 loại đất trồng cây hàng năm khác và ông H đã trồng cỏ nuôi bò, sử dụng mở một lối đi để ra đường công cộng. Đầu tháng 5/2020, ông H tiến hành đổ cột để kéo hàng rào và nhờ địa chính đo đất của ông Q nên ông Q mới phát hiện và ông đến báo Ủy ban nhân dân xã BX ngăn chặn lại. Ông Q thấy rằng thửa đất 101 từ trước đến nay có hình thể rõ ràng và được chính quyền cấp giấy từ thời cha mẹ ông và hiện tại ông đứng tên đều ổn định, ông H không có giấy tờ gì chứng minh phần đất diện tích 497m2 này là thuộc quyền sử dụng đất của ông. Trước giờ ông H sử dụng diện tích đất này để trồng cỏ và làm lối đi là lấn chiếm, sử dụng không có căn cứ. Nay ông Q có nhu cầu sử dụng đất và yêu cầu ông H giao trả nhưng ông H không đồng ý và nại ra là đất này thuộc thửa đất 367 của ông và bị cấp nhầm vào thửa đất của ông là vô lý. Hiện ông Q đã thế chấp thửa đất 101 để vay vốn tại Ngân hàng N chi nhánh thị xã G. Nên ông Q khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn H có nghĩa vụ trả lại cho ông Q phần diện tích đất lấn chiếm theo đo đạc là 497m2 loại đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 101, tờ bản đồ BXC4, diện tích tích 2.989m2 loại đất ở nông thôn và đất trồng cây hàng năm khác do Ủy ban nhân dân thị xã G cấp ngày 22/8/2011 cho ông Nguyễn Văn Q. Yêu cầu ông H di dời đoạn trán đan dùng làm lối đi, sân đan, di dời cây trồng và thu hoạch cỏ trên đất để trả lại hiện trạng đất cho ông Q. Địa chỉ thửa đất: ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang. Đồng ý kết quả định giá, đo đạc.
(Phần nội dung tiếp theo lược bỏ để đảm bảo tính súc tích của HTML theo yêu cầu)
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 158, Điều 166 và Điều 189 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 24 Điều 3, khoản 10 Điều 12 và Điều 166 Luật Đất đai 2013; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 134/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Tiền Giang.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q về việc yêu cầu ông Phạm Văn H di dời sân đan và đường bê tông.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q. Buộc ông Phạm Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Q phần đất diện tích qua đo đạc là 497m2 loại đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 101, tờ bản đồ BCX4, diện tích 2.989m2, loại đất ở nông thôn và trồng cây hàng năm khác tại ấp 1, xã BX, thị xã G, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00568 ngày 22/8/2011 do Ủy ban nhân dân thị xã G cấp cho ông Nguyễn Văn Q.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn H về việc yêu cầu công nhận diện tích 497m2 đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa 101, tờ bản đồ BCX4.
- Ghi nhận sự thỏa thuận giữa đại diện ủy quyền của ông Phạm Văn H và đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Văn Q là ông Nguyễn Văn Q hỗ trợ tiền công di dời, hoàn trả giá trị các tài sản mà ông Phạm Văn H đã trồng và xây dựng trên đất, tổng số tiền là 14.255.105 đồng.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND thị xã G; - Chi cục THADS thị xã G; - Các đương sự; - Cổng thông tin điện tử; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hồng Tâm |
Bản án số 118/2022/DS-PT ngày 31/05/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang về tranh chấp "quyền sử dụng đất"
- Số bản án: 118/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp "Quyền sử dụng đất"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q kiện Phạm Văn H yêu cầu trả 497m2
