Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI


Bản án số: 106/2021/DS-PT
Ngày: 29/10/2021
V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phan Thị Vân Hương;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường; Ông Nguyễn Tất Nam.

Thư ký Toà án: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 283/2020/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2020 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2020/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân tỉnh H.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8416/2021/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Văn A, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ: Ngõ 148, đường N, phường N, thị xã B, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Tạ N và luật sư Thái Thị K, Công ty Luật T, Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt luật sư Thái Thị K tại phiên tòa.

* Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn B, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Ông Trần Văn S, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 6, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Anh Trần Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Bà Bùi Thị G, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
  5. Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  6. Bà Đào Thị L, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm 6, xã X, huyện Z, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
  7. Anh Đồng Văn T, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm 1, xã X, huyện Z, tỉnh H. Vắng mặt tại phiên tòa.
  8. Uỷ ban nhân dân huyện Z, tỉnh H. Vắng mặt người đại diện tại phiên tòa.
  9. Uỷ ban nhân dân xã X, huyện Z, tỉnh H. Vắng mặt người đại diện tại phiên tòa.
  10. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Vắng mặt người đại diện tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Đơn khởi kiện ngày 28/01/2019 và trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn ông Trần Văn A có nội dung: Năm 1979, ông trực tiếp khai hoang được một thửa đất diện tích 704m2 tại xóm 1, xã X, huyện Z, thuộc thửa số 146, tờ bản đồ số 13. Trên mảnh đất đó, năm 1984 ông xây dựng 01 nhà cấp 4 diện tích 80m2, năm 1987 xây thêm 01 nhà cấp 4 diện tích 60m2. Năm 1995, ông nhờ bố mẹ và em trai là ông Trần Văn S đến ở để trông coi hộ. Năm 1996, ông S tự ý cho ông Trần Văn B đến ở. Năm 2012, ông B tự ý chuyển cho con là Trần Thị T ở.

Năm 2013, ông Trần Văn A được UBND huyện Z cấp GCNQSDĐ số BN 893994 ngày 12/6/2013. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 704m2 và tài sản gắn liền trên đất hiện đang bị chị Trần Thị T chiếm giữ trái pháp luật.

2. Bị đơn chị Trần Thị T trình bày: Bố mẹ chị là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 146, nguồn gốc do bố chị nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn S và bà Đào Thị L vào năm 1996. Gia đình chị đã canh tác, xây dựng nhà ổn định và thực hiện nghĩa vụ nộp thuế.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Nguyên đơn là ông Trần Văn A khởi kiện yêu cầu buộc chị Trần Thị T trả lại nhà, đất. Lời khai và tài liệu chứng cứ cho thấy ông A thừa nhận ông B đã ở và tu sửa nhà từ năm 1996 đến nay. Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh H thụ lý, ông B và chị T đều trình bày chị T là người được ông B giao trông nom quản lý.

[2] Tòa án nhân dân tỉnh H thụ lý xác định tranh chấp đòi tài sản nhưng lại chỉ xác định bị đơn là chị Trần Thị T, còn ông Trần Văn B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ.

[3] Bản án sơ thẩm buộc bị đơn trả lại 704m2 đất nhưng lại công nhận cho ông B được quyền sử dụng 222,3m2 mà không ghi rõ ranh giới vị trí là thiếu sót. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh của Tòa án cấp sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ, cấp phúc thẩm không khắc phục bổ sung được.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310; Điều 313; khoản 3 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2020/DS-ST ngày 14/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh H và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh H giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí: Hoàn trả ông Trần Văn B 300.000 đồng và ông Trần Văn S 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 29/10/2021.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh H;
- TAND tỉnh H;
- Cục THADS tỉnh H;
- Lưu VP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


(đã ký)

Phan Thị Vân Hương
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 106/2021/DS-PT ngày 29/10/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 106/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không được chấp nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger