Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH


Bản án số: 06/2021/DS-ST
Ngày 26/3/2021
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Chung, cán bộ hưu thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ.
  2. Bà Phan Thị Nhụ, cán bộ hưu thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thứ, Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 03 năm 2021 tại Hội trường xét xử trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 06/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 01/2020/QĐXX-DSST ngày 04 tháng 11 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-DS ngày 20/11/2020; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 02/2020/QĐST- DS ngày 21/12/2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST-DS ngày 21/01/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST-DS ngày 15/03/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1952. (có mặt)
Cư trú: Thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà B:
Bà Phạm Thu Hà, Luật sư Văn phòng Luật sư Trung Hòa - Chi nhánh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Thôn Đỉnh, thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)

Bị đơn:
1. Anh Nguyễn Đức Tr, sinh năm 1973. (vắng mặt)
2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Cư trú: Thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976. (đề nghị vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Đức Ngh, sinh năm 1978. (ủy quyền cho chị T)
  3. Chị Trần Thị T, sinh năm 1981. (đề nghị vắng mặt)
  4. Anh Nguyễn Đức Gi, sinh năm 1997. (vắng mặt)
  5. Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1982. (đề nghị vắng mặt)
  6. Cháu Nguyễn Thị Th, sinh năm 2002. (con anh Bỉnh – đề nghị vắng mặt)
  7. Cháu Nguyễn Thị Thảo, sinh năm 2009. (con anh Bỉnh - do chị Ph đại diện)
  8. Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1983. (đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của phía bà B, anh Tr, anh Ngh, chị T có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Vợ chồng ông Nguyễn Đức Triệu, bà Nguyễn Thị B đều có hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Ông Triệu mất tháng 11/2007, còn bà B hiện đang sinh sống tại thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao. Vợ chồng ông Triệu, bà B sinh được 05 người con bao gồm: Anh Nguyễn Đức Tr, Chị Nguyễn Thị H, Anh Nguyễn Đức Ngh, Anh Nguyễn Đức Bỉnh (đã mất năm 2009), Chị Nguyễn Thị M.

Theo bà B và Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bà B trình bày: Năm 1994 thôn Mao Dộc có chủ trương bán đất ở cho các hộ gia đình đông con. Khi đó vợ chồng bà có đăng ký mua, đến năm 1997 ông Triệu nộp tiền đất thì được thôn cấp giao cho một thửa. Thửa đất theo sổ đỏ cấp năm 2000 có diện tích tự kê khai là 276m2 có số thửa 01, tờ bản đồ địa chính thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao. Đến năm 2001 Nhà nước lập hồ sơ địa chính đo đạc lại thì theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất, thửa đất có diện tích 238m2 và có số thửa 97, tờ bản đồ số 10 đất thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng, xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của bà B thì bà cho rằng thửa đất số 97, tờ bản đồ số 10 đất thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh là do thôn Mao Dộc bán cho vợ chồng bà từ năm 1994. Sau đó đến năm 2000 Nhà nước có làm sổ đỏ thì vợ chồng bà có cho anh Nguyễn Đức Tr đứng tên hộ thửa đất. Nay bà yêu cầu vợ chồng anh Tr phải trả lại bà thửa đất để bà sang tên cho vợ chồng anh Ngh, chị T nhưng chị D không nhất trí. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của BLTTDS.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 227, Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Điều 100, 203 Luật đất đai. Các Điều 163, 164, 166 và Điều 221 của Bộ Luật dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Xác định thửa đất số số 97, tờ bản đồ số 10 đất thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh có diện tích 238m2 theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất lập ngày 9/10/2001 là tài sản chung của bà Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Đức Triệu.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị B, khởi kiện buộc vợ chồng anh Nguyễn Đức Tr, chị Nguyễn Thị D phải trả lại thửa đất số 97, tờ bản đồ số 10 đất thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  3. Tạm giao cho bà B quản lý, sử dụng diện tích đất 238m2 có số thửa 97, tờ bản đồ số 10 đất thôn Mao Dộc, xã Phượng Mao, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bắc Ninh.
- VKSND tỉnh Bắc Ninh.
- VKSND huyện Quế Võ.
- Chi cục THADS huyện Quế Võ.
- Các đương sự.
- Lưu hồ sơ.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa



Nguyễn Sỹ Cây
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 06/2021/DS-ST ngày 26/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 06/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị B với vợ chồng anh Nguyễn Đức Tr, chị Nguyễn Thị D, đất của bố mẹ nhưng con đứng tên sổ đỏ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger