Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁI THỤY
TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 05/2020/DS-ST
Ngày 09-12-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Ngô Văn Sang;
  2. Bà Phạm Hồng Thiêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh- là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải– Kiểm sát viên.

Ngày 09- 12- 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 13/2020/TLST- DS ngày 28 tháng 07 năm 2020 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2020/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng T1; Địa chỉ: Tầng xxx Tòa nhà S1, số xxx , phường B1, quận xxx, thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V1- Chức vụ: Tổng Giám đốc- Vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H1- Chức vụ: Giám đốc Trung tâm Quản lý nợ KHCN (Giấy ủy quyền số xxx ngày 16- 01- 2017 của Tổng Giám đốc Ngân hàng T1); Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền lại theo Giấy ủy quyền số 1717420 ngày 06- 06- 2020 của bà Trần Thị Thu H1 gồm:

  • Bà Trần Thùy P1- Chức vụ: Cán bộ. Vắng mặt.
  • Ông Chu Cao T2- Chức vụ: Cán bộ. Vắng mặt.
  • Bà Dương Thị S2- Chức vụ: Cán bộ. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S3, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn C1, xã M1, huyện T3, tỉnh Thái Bình; Vắng mặt- lần thứ hai.

Bà Bùi Hồng L1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn C1, xã M1, huyện T3, tỉnh Thái Bình; Vắng mặt- lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 06 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn là Ngân hàng T1- Chi nhánh Thái Bình (Sau đây ghi theo tên viết tắt là V1) cho bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Văn S3, bà Bùi Hồng L1 vay vốn theo “Hợp đồng tín dụng” số 393.HĐTD.044.17 ngày 23- 11- 2017 đã ký giữa hai bên. Nội dung: V1- Chi nhánh Thái Bình cho vợ chồng ông S3, bà L1 vay số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng); thời hạn vay: 180tháng; lãi suất áp dụng cho 12 tháng đầu kể từ thời điểm giải ngân: 9,29%/1năm360 ngày (quy đổi 1 năm 365 ngày là 9,42%). Hết thời hạn ưu đãi 12 tháng, lãi suất sẽ điều chỉnh lại 3 tháng 1 lần theo biên độ 4,29%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Thực hiện hợp đồng trên, Ngân hàng đã giao cho ông S3, bà L1 vay số tiền 300.000.000đồng (Ba trăm triệu đồng) bằng cách chuyển khoản vào tài khoản của ông S3 mở tại V1; bên vay đã ký nhận theo “Khế ước nhận nợ” số 393.01.KUNN1.044.17 ngày 24- 11- 2017.

Về tài sản thế chấp: Ngày 23- 11- 2017, nguyên đơn đã ký với bị đơn (ông S3 bà L1) “Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” số 393.01.HĐTC1.044.17; được đăng ký thế chấp cùng ngày 23- 11- 2017. Bên thế chấp (Bên B) là vợ chồng ông S3, bà L1 đồng ý thế chấp toàn bộ tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của ông bà là Quyền sử dụng 175,1m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số xxx, tờ bản đồ số xxx tại thôn C1, xã M1, huyện T3, tỉnh Thái Bình để bảo đảm toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của của bên B (ông S3, bà L1) gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí, tiền phạt và các khoản phải trả khác quy định trong “Hợp đồng tín dụng” số 393.HĐTD.044.17 ngày 23- 11- 2017. Thửa đất số xxx nêu trên đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình cấp “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CK xxx ngày 16- 11- 2017, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: ông Nguyễn Văn S3, bà Bùi Hồng L1.

Qúa trình trả nợ: Từ ngày 25- 12- 2017 đến nay, bị đơn đã trả nguyên đơn số tiền 70.722.522đồng trong đó đã trả nợ gốc: 28.490.000đồng, lãi trong hạn: 42.226.444đồng; lãi quá hạn (lãi phạt): 6.078đồng. Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09- 12- 2020), bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số 335.673.813đồng, trong đó: Nợ gốc: 271.510.000đồng, nợ lãi trong hạn: 54.825.973đồng, nợ lãi quá hạn (lãi phạt): 9.337.840đồng.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là vợ chồng ông S3, bà L1 phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 335.673.813đồng. Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng T1 được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.

[2]. Về hợp đồng cho vay: Việc bị đơn vay vốn của nguyên đơn theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên là có thật. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn nợ nguyên đơn tổng số tiền 335.673.813đồng. Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

[3]. Về tài sản thế chấp: Hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện và đăng ký đúng quy định. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên cần xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho nguyên đơn.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 318, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

1). Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Văn S3 và bà Bùi Hồng L1 phải trả cho Ngân hàng T1 số tiền 335.673.813đồng (Ba trăm ba mươi lăm triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm mười ba đồng).

2). Về việc trả lãi sau khi xét xử: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong nợ gốc, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

3). Về xử lý tài sản thế chấp: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị đơn không thanh toán xong nợ thì Ngân hàng T1 có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số xxx, tờ bản đồ số xxx tại thôn C1, xã M1, huyện T3, tỉnh Thái Bình để thu hồi nợ.

4). Về án phí: Bị đơn phải chịu 16.783.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Nơi nhận:
- Đương sự;
- VKSND huyện Thái Thụy;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa



Trần Văn Tòng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 05/2020/DS-ST ngày 09/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 05/2020/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2020
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh S chị L phải thanh toán khoản tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger