Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ QUAO

TỈNH KIÊN GIANG


Bản án số: 02/2022/DS-ST

Ngày: 07/3/2022.

V/v: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
  2. Ông Lý Tuấn Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc – kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 114/2021/TLST-DS, ngày 02 tháng 7 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-DS, ngày 24 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2022/QĐST-DS, ngày 11 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công V – sinh năm 1965, có mặt.
    Bà Phạm Thị Đ – sinh năm 1965, có mặt.
    Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện G, K.
  2. Bị đơn: Ông Trần B – sinh năm 1954, có đơn xin vắng mặt.
    Bà Lê Thị Nh – sinh năm 1957, vắng mặt.
    Địa chỉ: ấp V, xã V, huyện Gò Quao, Kiên Giang.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Ngọc Th – sinh năm 1984, có đơn xin vắng mặt.
    HKTT: ấp 2, xã V1, huyện G, tỉnh K.
    Hiện đang sinh sống tại: ấp 3, xã V1, huyện G, tỉnh K.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16/6/2021, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Công V và bà Phạm Thị Đ như sau:

Vào ngày 24/12/2014 âm lịch, vợ chồng ông bà có nhận cố của ông Trần B và bà Lê Thị Nh diện tích đất 08 công tầm 03m (gồm 02 thửa), đất trồng mía, tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện G, tỉnh K với số vàng bằng 70 chỉ vàng 24k, loại vàng 9999, thời hạn cố là 01 năm. Sau khi làm hợp đồng cố đất vợ chồng ông bà không sử dụng đất mà cho vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh thuê lại diện tích đất trên với giá thuê bằng 35.000.000đồng/năm. Tại thời điểm giao dịch cố đất thì quyền sử dụng đất do ông Trương Văn Thép và bà Trần Thị Đáng đứng tên vì ông Trần B và bà Lê Thị Nh nhận chuyển nhượng của họ nhưng chưa chuyển quyền sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất 01 thửa sang cho con trai đứng tên, thửa còn lại ông Trần B và bà Lê Thị Nh mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam vay tiền và không trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu Cơ quan Thi hành án hóa giá bán tài sản cho bà Trần Ngọc Th. Như vậy, hiện nay tài sản là đối tượng cầm cố không còn nên ông bà yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày 24/12/2014 âm lịch, giữa vợ chồng ông bà với ông Trần B và bà Lê Thị Nh. Đồng thời, yêu cầu vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh phải trả lại cho vợ chồng ông bà 70 chỉ vàng 24k loại vàng 9999. Ngoài ra vợ chồng ông bà không yêu cầu gì thêm. Vợ chồng ông bà không có yêu cầu gì đối với bà Trần Ngọc Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa ông Nguyễn Công V và bà Phạm Thị Đ với ông Trần B và bà Lê Thị Nh là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[2] Về nội dung: Quan hệ tranh chấp giữa ông Nguyễn Công V và bà Phạm Thị Đ với ông Trần B và bà Lê Thị Nh là tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự năm 2015. Khi vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh cố quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Công V, bà Phạm Thị Đ có làm hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất vào ngày 24/12/2014 âm lịch, có xác nhận của trưởng ấp V, xã V vào ngày 30/01/2015. Tuy nhiên, tại thời điểm cố đất thì quyền sử dụng đất không phải do ông Trần B và bà Lê Thị Nh đứng tên hợp pháp. Hiện nay, tài sản cấm cố là quyền sử dụng đất đã bị Cơ quan Thi hành án phát mãi thực hiện nghĩa vụ cho bản án số: 01/2021/DS-ST, ngày 04/01/2021, của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao. Như vậy, đối tượng cầm cố không còn nên vợ chồng ông Nguyễn Công V và bà Phạm Thị Đ yêu cầu hủy hợp đồng cầm cố là có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 309, 310, 311, 315, 423, 427 và 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công V và bà Phạm Thị Đ.

Xử: Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất ngày ngày 24/12/2014 âm lịch giữa vợ chồng ông Nguyễn Công V, bà Phạm Thị Đ với vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh.

Buộc vợ chồng ông Trần B và bà Lê Thị Nh phải giao trả cho vợ chồng vợ chồng ông Nguyễn Công V, bà Phạm Thị Đ 70 chỉ vàng 24k, loại vàng 9999.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKS Gò Quao;
  • - Chi cục THA;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 02/2022/DS-ST ngày 07/03/2022 của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 02/2022/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Công văn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng cầm cố với ông Trần B và yêu cầu trả số vàng mà ông B đã nhận khi cầm cố lại cho ông V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger