Giới thiệu về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1837:1976
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1837:1976 quy định các phương pháp phân tích hóa học đối với trường thạch (feldspar) - một nhóm khoáng vật silicat phổ biến và là nguyên liệu quan trọng trong các ngành công nghiệp sản xuất gốm sứ, thủy tinh, vật liệu xây dựng. Tiêu chuẩn này thiết lập hệ thống quy trình kỹ thuật chuẩn xác nhằm xác định hàm lượng các thành phần hóa học cốt lõi, giúp đánh giá chất lượng quặng và phục vụ công tác kiểm định chất lượng sản phẩm.
Các nội dung và quy định kỹ thuật cốt lõi của TCVN 1837:1976
Dưới đây là tóm tắt chi tiết các quy định chung và phương pháp phân tích hóa học được thiết lập trong tiêu chuẩn:
1. Quy định chung trong quá trình phân tích hóa học
- Yêu cầu về hóa chất và nước dùng: Tất cả các hóa chất, thuốc thử được sử dụng trong quá trình phân tích phải đạt độ tinh khiết hóa học (TKHH) hoặc tinh khiết phân tích (TKPT). Nước dùng để pha chế dung dịch và tiến hành các phản ứng phải là nước cất theo tiêu chuẩn hiện hành để tránh sai số do tạp chất.
- Thiết bị và dụng cụ đo lường: Các dụng cụ thủy tinh đo thể tích (như buret, pipet, bình định mức) phải được kiểm chuẩn định kỳ. Cân phân tích sử dụng trong các phép cân định lượng phải có độ chính xác cao, sai số không vượt quá giới hạn cho phép (thường là 0,0001g).
- Tiến hành phân tích song song: Để đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của kết quả, mỗi chỉ tiêu hóa học phải được tiến hành phân tích song song trên ít nhất hai lượng cân của cùng một mẫu thử. Kết quả cuối cùng được tính bằng trung bình cộng của các phép xác định song song nếu sai lệch giữa chúng nằm trong phạm vi cho phép của tiêu chuẩn.
2. Quy trình chuẩn bị mẫu thử
- Lấy mẫu và nghiền mẫu: Mẫu trường thạch gửi đến phòng thí nghiệm phải được lấy theo đúng quy trình kỹ thuật để đảm bảo tính đại diện. Mẫu sau đó được nghiền mịn đến kích thước hạt tiêu chuẩn (qua sàng lọc chuyên dụng) nhằm đảm bảo phản ứng hóa học xảy ra hoàn toàn trong quá trình phân hủy mẫu.
- Sấy khô mẫu: Trước khi tiến hành cân để phân tích, mẫu thử phải được sấy khô ở nhiệt độ từ 105°C đến 110°C cho đến khi đạt khối lượng không đổi nhằm loại bỏ hoàn toàn độ ẩm cơ học bám trên bề mặt hạt quặng.
3. Các phương pháp xác định thành phần hóa học chính
- Xác định mất khi nung (MKN): Phương pháp này xác định hàm lượng các chất bay hơi (như nước liên kết hóa học, chất hữu cơ, cacbonat) bằng cách nung mẫu thử ở nhiệt độ cao (khoảng 950°C - 1000°C) cho đến khi khối lượng không đổi.
- Xác định hàm lượng Silic đioxit (SiO2): Thường áp dụng phương pháp khối lượng bằng cách cô cạn dung dịch axit clohydric để tách silic axit, sau đó nung và xử lý bằng axit flohydric (HF) để làm bay hơi silic dưới dạng SiF4, từ đó tính ra hàm lượng SiO2 dựa trên độ chênh lệch khối lượng.
- Xác định hàm lượng Nhôm oxit (Al2O3): Sử dụng phương pháp chuẩn độ complexon (EDTA) sau khi đã tách hoặc che các ion cản trở (như sắt, titan) bằng các thuốc thử thích hợp.
- Xác định hàm lượng Sắt oxit (Fe2O3): Áp dụng phương pháp trắc quang (so màu) với thuốc thử chuyên biệt (như axit sunfosalixilic hoặc o-phenanthrolin) ở bước sóng thích hợp để xác định chính xác hàm lượng sắt tổng số trong mẫu.
- Xác định hàm lượng Canxi oxit (CaO) và Magiê oxit (MgO): Được xác định bằng phương pháp chuẩn độ complexon (EDTA) với các chỉ thị màu kim loại trong môi trường kiềm có độ pH thích hợp cho từng ion.
- Xác định hàm lượng Natri oxit (Na2O) và Kali oxit (K2O): Sử dụng phương pháp quang kế ngọn lửa (phổ kế ngọn lửa) sau khi đã phân hủy mẫu bằng hỗn hợp axit mạnh thích hợp. Đây là phương pháp hiện đại giúp xác định nhanh và chính xác hàm lượng các oxit kiềm trong trường thạch.
Ý nghĩa và phạm vi áp dụng thực tế
TCVN 1837:1976 là văn bản kỹ thuật nền tảng giúp thống nhất phương pháp thử nghiệm giữa các phòng phân tích hóa học trên toàn quốc. Việc áp dụng tiêu chuẩn này giúp các doanh nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng trường thạch kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguyên liệu đầu vào, tối ưu hóa quy trình sản xuất và đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
TRƯỜNG THẠCH - PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÓA HỌC
Tiêu chuẩn này áp dụng cho trường thạch và quy định phương pháp phân tích các chỉ tiêu sau:
hàm lượng chất bốc khi nung;
hàm lượng silic dioxit;
hàm lượng sắt oxit;
hàm lượng titan dioxit;
hàm lượng nhôm oxit;
hàm lượng canxi oxit;
hàm lượng magie oxit;
tổng hàm lượng kim loại kiềm;
hàm lượng natri oxit và hàm lượng kali oxit.
1. YÊU CẦU CHUNG KHI PHÂN TÍCH
1.1. Trước khi phân tích thành phần hóa học của trường thạch phải trộn và nghiền mẫu lần cuối cùng trong cối mã não (độ nhỏ của hạt có đường kính là 0,04 mm)
1.2. Phải sấy mẫu trong tủ sấy ở nhiệt độ 105 - 110 oC đến khối lượng không đổi, cẩn thận trộn đều trước khi đem cân mẫu để phân tích.
1.3. Lượng cân mẫu và lượng cân của các chất dùng để pha dung dịch chuẩn đều phải cân với độ chính xác đến 0,0002 g.
1.4. Phải dùng thuốc thử với độ tinh khiết không thấp hơn "tinh khiết để phân tích" và dùng giấy lọc không tàn trong quá trình phân tích.
1.5. Mỗi chỉ tiêu phải tiến hành phân tích không ít hơn 2 mẫu và chênh lệch giữa các kết quả phân tích không được vượt quá giới hạn cho phép.
2.1. Xác định hàm lượng chất bốc khi nung
2.1.1. Nội dung
Nung mẫu ở nhiệt độ 1 000 - 1 100 oC, hàm lượng chất bốc khi nung là hiệu số giữa khối lượng của chén nung và lượng cân mẫu trước và sau khi nung.
2.1.2. Dụng cụ
Lò Mup;
Chén nung bằng sứ.
2.1.3 Tiến hành phân tích
Cân 1 g mẫu, đã được sấy ở 105 - 111 oC. Bỏ lượng cân vào chén nung, đã được nung đến khối lượng không đổi, nâng từ từ nhiệt độ lò đến 1000 oC và giữ ở nhiệt độ đó không ít hơn 1 giờ, sau đó, làm nguội trong bình hút ẩm và đem cân.
2.1.4 Tính kết quả
Hàm lượng chất bốc khi nung (X1), tính bằng phần trăm, theo công thức:
X1 =
trong đó:
g - khối lượng chén nung và lượng cân trước khi nung, tính bằng g;
g1 - khối lượng chén nung và lượng cân sau khi nung, tính bằng g;
G - lượng cân mẫu, tính bằng g.
Chênh lệch giữa kết quả của hai phép xác định song song không được lớn hơn 0,10 % tuyệt đối.
2.2. Xác định hàm lượng silic dioxit
2.2.1. Nội dung
Dùng natri cacbonat khan để phá hủy mẫu, khử nước của silic dioxit trong môi trường axit clohidric, nung và xử lý bằng axit flohidric để tách silic ở dạng silic tetraflorua. Silic dioxit được xác định sau hai lần bay hơi.
2.2.2. Thuốc thử và dụng cụ
Axit clohidirc, dung dịch 1 : 1 và 5 : 95
Axit sunfuric
Axit flohidric, dung dịch 40 %
Bạc nitrat, dung dịch 1 %
Kali pirosunfat
Kali cacbonat khan
Natri cacbonat khan
Chén nung bằng platin
2.2.3. Tiến hành phân tích
Bỏ vào chén nung bằng platin 0,5 g mẫu đã được sấy ở 105 - 110 oC, 5 - 7 g natri cacbonat khan hoặc hỗn hợp natri cacbonat khan và kali cacbonat khan theo tỷ lệ 1 : 1 và cẩn thận trộn đều lượng chứa. Dùng nắp platin đậy chén nung lại và tăng từ từ nhiệt độ lò nung đến 950 - 1 000 oC, làm nóng chảy trong lò Múp trong 30 phút. Sau khi để nguội, chuyển chén nung có nắp vào bát sứ có đường kính 10 - 12 cm, dung tích 200 ml. Dùng tấm kí
Để xem đầy đủ nội dung và sử dụng toàn bộ tiện ích của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Nếu bạn đã là thành viên, hãy bấm:
- 1Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6598:2000 về Nguyên liệu sản xuất sản phẩm gốm xây dựng - Trường thạch do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành
- 2Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1837:2008 về Trường thạch - Phương pháp phân tích hóa học
- 3Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1836:2008 về Trường thạch - Yêu cầu kỹ thuật chung
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1837:1976 về Trường thạch - Phương pháp phân tích hóa học
- Số hiệu: TCVN1837:1976
- Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
- Ngày ban hành: 01/01/1976
- Nơi ban hành: ***
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/07/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
