Điều 9 Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
Điều 9. Khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 183 và Điều 442 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn, nêu rõ lý lịch bị can, căn cứ khởi tố, tổng số tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can, việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can để Viện kiểm sát có thẩm quyền xét phê chuẩn.
3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:
a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó.
Ví dụ 1: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Từ tháng 01/2025 đến tháng 3/2025, Nguyễn Văn A đã thực hiện 05 hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại địa bàn phường H, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, về tội “Trộm cắp tài sản” xảy ra tại phường H và ra 01 quyết định khởi tố bị can về tội “Trộm cắp tài sản” đối với Nguyễn Văn A về 05 hành vi trộm cắp tài sản.
Ví dụ 2: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A phạm tội trộm cắp tài sản nêu tại Ví dụ 1 trên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản tại phường M, tỉnh T. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án về hành vi trộm cắp tài sản xảy tại phường M để tiến hành điều tra;
b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội giết người, cướp tài sản tại phường H, tỉnh T thì bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra Công an tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Giết người” và “Cướp tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 123, Điều 168 của Bộ luật Hình sự;
c) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau mà hành vi phạm tội trước là để thực hiện hành vi phạm tội sau hoặc các hành vi phạm tội có liên quan đến nhau, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Để thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Văn A đã thực hiện hành vi phạm tội làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức để bị hại tin tưởng, chuyển tiền cho Nguyễn Văn A. Trong trường hợp này, Cơ quan điều tra chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự;
d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Ví dụ: Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra tỉnh T làm rõ: Tháng 01/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tháng 02/2025, Nguyễn Văn A thực hiện hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh T. Trường hợp này, Cơ quan điều tra tỉnh T chỉ ra 01 quyết định khởi tố vụ án, 01 quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về 02 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, trong quyết định phải ghi rõ điểm, khoản áp dụng theo Điều 174, Điều 175 của Bộ luật Hình sự;
đ) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.
Ví dụ: Quá trình điều tra vụ án Nguyễn Văn A về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra hình sự khu vực, Quân khu T phát hiện Nguyễn Văn A còn thực hiện hành vi phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự (thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T). Trường hợp này, Cơ quan điều tra hình sự khu vực phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát quân sự khu vực có thẩm quyền để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra hình sự Quân khu T tiến hành điều tra;
e) Trường hợp khởi tố bị can về nhiều tội, trong đó có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan An ninh điều tra, có tội thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra mà nếu tách vụ án để điều tra theo thẩm quyền sẽ ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của vụ án, thì Cơ quan điều tra đang thụ lý vụ án phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát có thẩm quyền đánh giá, xác định tội phạm nào là tội phạm chính. Tội phạm chính thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra nào thì Cơ quan điều tra đó tiến hành điều tra toàn bộ vụ án.
7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát có thẩm quyền phát hiện thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành
- Số hiệu: 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP
- Loại văn bản: Thông tư liên tịch
- Ngày ban hành: 28/01/2026
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Hồ Đức Anh, Lê Quốc Hùng, Võ Minh Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/03/2026
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
- Điều 2. Đối tượng áp dụng
- Điều 3. Nguyên tắc phối hợp
- Điều 4. Thay đổi người tiến hành tố tụng
- Điều 5. Thay đổi, hủy bỏ lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó trưởng Công an cấp xã được phân công
- Điều 6. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
- Điều 7. Khởi tố vụ án; thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
- Điều 8. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
- Điều 9. Khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
- Điều 10. Giao nhận, xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
- Điều 11. Đề ra yêu cầu điều tra và thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên
- Điều 12. Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra
- Điều 13. Thông báo, chuyển biên bản về các hoạt động điều tra
- Điều 14. Tính thời hạn tố tụng trong trường hợp nhập vụ án hình sự, bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn, khởi tố, điều tra bổ sung về một tội phạm khác
- Điều 15. Áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
- Điều 16. Phê chuẩn lệnh tạm giam trong trường hợp người đang bị tạm giữ bị khởi tố bị can
- Điều 17. Tính thời hạn tạm giam trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ và cách ghi thời hạn trong lệnh tạm giam, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị can đã bị tạm giữ
- Điều 18. Sử dụng lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra và quyết định gia hạn thời hạn tạm giam của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
- Điều 19. Sử dụng lệnh tạm giam, quyết định gia hạn tạm giam trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi còn thời hạn tạm giam và việc tạm giam bị can khi chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền
- Điều 20. Gia hạn thời hạn áp dụng, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra
- Điều 21. Áp dụng biện pháp bảo lĩnh
- Điều 22. Áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm
- Điều 23. Áp dụng một số biện pháp ngăn chặn khi gia hạn thời hạn điều tra, gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố
- Điều 24. Áp dụng biện pháp tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án
- Điều 25. Quyết định, phê chuẩn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
- Điều 26. Thực hiện biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
- Điều 27. Hủy bỏ, kết thúc việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
- Điều 28. Việc quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
- Điều 29. Chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền; nhập, tách vụ án hình sự
- Điều 30. Phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên trong trường hợp ủy thác điều tra
- Điều 31. Chuẩn bị kết thúc điều tra vụ án
- Điều 32. Tạm đình chỉ điều tra
- Điều 33. Đình chỉ điều tra
- Điều 34. Chuyển, giao nhận biên bản, tài liệu trong trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Điều 35. Thống kê, đóng dấu và đánh số bút lục hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố
- Điều 36. Giao nhận hồ sơ vụ án kết thúc điều tra và vật chứng
- Điều 37. Áp dụng một số quy định của Thông tư liên tịch trong quan hệ phối hợp giữa cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
- Điều 38. Hiệu lực thi hành
- Điều 39. Tổ chức thực hiện
