Ngày 15 tháng 08 năm 2000, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 81/2000/TT-BTC hướng dẫn xử lý thuế giá trị gia tăng đối với các nhà máy đường nhằm tháo gỡ các vướng mắc về tài chính, hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất đường trong nước vượt qua giai đoạn khó khăn và ổn định sản xuất kinh doanh.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Thông tư này áp dụng đối với tất cả các nhà máy, xí nghiệp, công ty sản xuất đường (gọi chung là các nhà máy đường) hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp khấu trừ thuế, đang gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế hoặc cần được xử lý các tồn tại về thuế GTGT.
- Nguyên tắc xử lý thuế giá trị gia tăng đối với các nhà máy đường
- Việc xử lý thuế GTGT phải đảm bảo hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, đồng thời không làm thất thu ngân sách nhà nước và bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật thuế.
- Ưu tiên giải quyết các vướng mắc liên quan đến thuế GTGT đầu vào đối với nguyên liệu mía mua vào và thuế GTGT đầu ra của sản phẩm đường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu.
- Quy định về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
- Đối với nguyên liệu mía mua trực tiếp của người sản xuất (nông dân) không có hóa đơn GTGT, các nhà máy đường được phép lập bảng kê thu mua và tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo tỷ lệ phần trăm (%) quy định trên giá trị mía thực mua.
- Thuế GTGT đầu vào của các loại vật tư, hóa chất, nhiên liệu, dịch vụ mua ngoài phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất đường được khấu trừ toàn bộ nếu có hóa đơn GTGT hợp pháp và chứng từ thanh toán theo quy định.
- Trường hợp nhà máy đường có cả hoạt động sản xuất sản phẩm chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ; nếu không hạch toán riêng được thì phân bổ theo tỷ lệ doanh thu.
- Xử lý hoàn thuế và miễn, giảm thuế giá trị gia tăng
- Nhà máy đường có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc quý do đầu tư tài sản cố định, hoặc do giá bán đường đầu ra thấp hơn giá vốn, được xem xét hoàn thuế GTGT theo định kỳ hoặc chuyển sang khấu trừ vào kỳ tiếp theo.
- Đối với các nhà máy đường gặp khó khăn khách quan dẫn đến thua lỗ kéo dài, Bộ Tài chính phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét cho phép giãn thời hạn nộp thuế GTGT hoặc giảm số thuế GTGT phải nộp trong những trường hợp đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
- Sản phẩm đường xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% và được hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng theo quy định của pháp luật về thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu.
- Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan liên quan
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn các nhà máy đường trên địa bàn thực hiện đúng các nội dung tại Thông tư này.
- Các nhà máy đường có trách nhiệm kê khai trung thực, chính xác số thuế GTGT đầu vào, đầu ra, lập đầy đủ hồ sơ đề nghị hoàn thuế hoặc xử lý thuế gửi cơ quan thuế trực tiếp quản lý để được giải quyết kịp thời.
- Mọi hành vi gian lận trong việc kê khai, hoàn thuế GTGT đối với sản phẩm đường và nguyên liệu mía sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật về thuế và pháp luật hình sự hiện hành.
Hiệu lực thi hành: Thông tư 81/2000/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Tài chính về thuế GTGT đối với các nhà máy đường trái với hướng dẫn tại Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 81/2000/TT-BTC | Hà Nội, ngày 02 tháng 8 năm 2000 |
Căn cứ vào Quyết định số 65/2000/QĐ-TTg ngày 7/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ về giảm thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải nộp đối với các doanh nghiệp sản xuất đường. Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện như sau:
I. ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC XÉT GIẢM THUẾ GTGT:
1. Các doanh nghiệp sản xuất mía đường nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh dẫn đến bị lỗ thì được xét giảm thuế GTGT phải nộp đối với sản phẩm đường và các loại phụ phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất đường (mật rỉ, bã mía, bã bùn) gọi chung là phế liệu thu hồi.
2. Trường hợp doanh nghiệp vừa sản xuất đường vừa sản xuất một số sản phẩm phụ khác thì phải hạch toán riêng kết quả kinh doanh của từng loại. Trường hợp doanh nghiệp sản xuất đường có sản xuất một số sản phẩm phụ khác từ phế liệu thu hồi (phân vi sinh, ván ép...) mà không hạch toán riêng được kết quả kinh doanh của từng loại sản phẩm hàng hoá thì mức giảm thuế GTGT đối với sản phẩm đường và các phế liệu thu hồi tương ứng với số lỗ phát sinh trong năm của doanh nghiệp nhưng không vượt quá số thuế GTGT phải nộp của các loại sản phẩm đó.
1. Năm 1999, giảm số thuế GTGT phải nộp tương ứng với số lỗ nhưng tối đa không vượt quá số thuế GTGT phải nộp trong năm.
| Số thuế GTGT phải nộp | = | Số thuế GTGT đầu ra của sản phẩm đường và các phế liệu thu hồi bán ra | - | Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ của sản phẩm đường và các loại phế liệu thu hồi |
2. Năm 2000, được tạm giảm 50% số thuế GTGT phải nộp hàng tháng đối với sản phẩm đường và các phế liệu thu hồi bán ra. Khi quyết toán năm, nếu số thuế GTGT phải nộp đã tạm giảm hàng tháng lớn hơn số thực lỗ phát sinh thì chỉ được giảm số thuế GTGT phải nộp bằng với số lỗ, doanh nghiệp phải nộp số chênh lệch (số thuế GTGT phải nộp đã tạm giảm - số lỗ thực tế) vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập xong báo cáo tài chính năm theo quy định của chế độ hiện hành.
Trường hợp nếu đã giảm 50% số thuế GTGT phải nộp mà doanh nghiệp vẫn còn lỗ thì được giảm tiếp số thuế GTGT phải nộp bằng với số thực lỗ, nhưng mức giảm tối đa không vượt quá số thuế GTGT phải nộp trong năm.
III. HỒ SƠ XÉT GIẢM THUẾ GTGT:
Doanh nghiệp sản xuất mía đường bị lỗ lập hồ sơ xét giảm thuế bao gồm:
Công văn đề nghị giảm thuế của doanh nghiệp có giải trình giá thành, giá bán không có thuế GTGT và thuế GTGT của từng sản phẩm, hàng hoá.
Báo cáo tài chính của năm xin giảm thuế.
Báo cáo quyết toán thuế ghi rõ số thuế GTGT phải nộp, số thuế GTGT tạm giảm, số thuế GTGT còn phải nộp.
Bản nhận xét đánh giá sau kiểm tra báo cáo quyết toán thuế.
IV. TRÌNH TỰ VÀ THẨM QUYỀN XÉT GIẢM THUẾ GTGT:
1. Trình tự xét giảm thuế GTGT:
Hồ sơ giảm thuế của doanh nghiệp được gửi tới cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế.
Cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, xác minh tính chính xác của số liệu; xác định kết quả của sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đường, các phế liệu thu hồi bán ra.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan thuế xem xét và ra quyết định giảm thuế theo thẩm quyền. Trường hợp không thuộc thẩm quyền quyết định giảm thuế thì phải có tờ trình kiến nghị cơ quan thuế cấp trên xem xét quyết định.
2. Thẩm quyền xử lý giảm thuế:
Trong năm 2000, việc tạm giảm 50% thuế GTGT phải nộp hàng tháng đối với sản phẩm đường và các phế liệu thu hồi bán ra do Giám đốc doanh nghiệp tự kê khai thuế hàng tháng với cơ quan thuế và chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai trước pháp luật.
Sau khi kết thúc năm tài chính, căn cứ vào quyết toán thuế được duyệt, thẩm quyền xử lý giảm thuế như sau:
- Mức giảm thuế GTGT dưới 1 tỷ đồng do Cục trưởng Cục thuế quyết định. Cục thuế có trách nhiệm thông báo cho đơn vị đồng thời gửi một bản về Tổng cục thuế thay báo cáo.
- Mức giảm thuế GTGT từ 1 tỷ đồng trở lên do Tổng cục trưởng Tổng cục thuế quyết định.
- Xử lý tồn tại:
a. Các loại phế liệu (mật rỉ, bã mía, bã bùn) thu hồi bán ra áp dụng thuế suất thuế GTGT là 5% theo quy định tại Điểm 2h - Thông tư số 49/2000/TT-BTC ngày 31/5/2000 của Bộ Tài chính. Trường hợp các loại phế liệu thu hồi đơn vị bán ra, đã xuất hoá đơn GTGT có các mức thuế suất khác với quy định này thì đơn vị kê khai nộp thuế theo thực tế ghi trên hoá đơn bán hàng.
b. Trường hợp trong năm 1999, doanh nghiệp sản xuất mía đường bị lỗ, thuế GTGT đối với sản phẩm đường và các phế liệu thu hồi đã nộp ngân sách nhà nước cao hơn mức phải nộp quy định tại Quyết định số 65/2000/QĐ-TTg ngày 7/6/2000 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư này thì Cục trưởng Cục thuế ra quyết định hoàn lại thuế GTGT đã nộp thừa cho doanh nghiệp. Trường hợp nộp thiếu, doanh nghiệp phải nộp ngay số thuế còn lại vào Ngân sách nhà nước.
c. Trong 6 tháng đầu năm 2000, các doanh nghiệp sản xuất mía đường chưa thực hiện tạm giảm 50% thuế GTGT phải nộp hàng tháng thì được tạm giảm 50% thuế GTGT phải nộp trong 6 tháng đầu năm 2000. Trường hợp số thuế GTGT doanh nghiệp đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp (sau khi được tạm giảm 50%) thì được trừ vào số thuế GTGT phải nộp của 3 tháng tiếp theo. Sau 3 tháng nếu chưa bù trừ hết số thuế GTGT đã nộp thì Cục trưởng Cục thuế ra quyết định hoàn thuế GTGT cho doanh nghiệp. Trường hợp nộp chưa đủ, doanh nghiệp phải nộp ngay số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
4. Tổng hợp báo cáo:
- Hàng quý Cục thuế tỉnh, thành phố có xử lý thuế GTGT cho các doanh nghiệp sản xuất mía đường tổng hợp báo cáo về Tổng cục thuế vào ngày cuối cùng của quý báo cáo.
- Tổng cục thuế có trách nhiệm tổng hợp số liệu giảm thuế GTGT đối với các doanh nghiệp sản xuất mía đường để báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các đơn vị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính (Tổng cục thuế) để nghiên cứu xử lý.
| Vũ Văn Ninh (Đã ký) |
- 1Thông tư 49/2000/TT-BTC hướng dẫn thi hành NĐ 15/2000/NĐ-CP thi hành NQ 90/NQ-UBTVQH10 sửa đổi một số danh mục hàng hoá dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT và thuế suất thuế GTGT đối với một số hàng hóa dịch vụ và sửa đổi một số quy định về thuế GTGT do Bộ Tài chính ban hành
- 2Quyết định 65/2000/QĐ-TTg về việc giảm thuế giá trị gia tăng phải nộp đối với các doanh nghiệp sản xuất đường do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Thông tư 81/2000/TT-BTC hướng dẫn xử lý thuế giá trị gia tăng đối với các nhà máy đường do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 81/2000/TT-BTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 02/08/2000
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Vũ Văn Ninh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 37
- Ngày hiệu lực: 02/08/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
