Ngày 04 tháng 8 năm 2003, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 76/2003/TT-BTC hướng dẫn về bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định về quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn tài chính cho các chủ thể tham gia vào quá trình đầu tư, xây dựng và thiết lập cơ chế bảo hiểm bắt buộc đối với các dự án sử dụng nguồn vốn của Nhà nước.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư này điều chỉnh các hoạt động liên quan đến việc tham gia bảo hiểm, thực hiện hợp đồng bảo hiểm và bồi thường thiệt hại trong quá trình đầu tư và xây dựng tại Việt Nam. Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước.
- Các nhà thầu tư vấn (khảo sát, thiết kế, giám sát) và nhà thầu thi công xây dựng, lắp đặt thực hiện các gói thầu thuộc dự án đầu tư xây dựng.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam thực hiện cung cấp dịch vụ bảo hiểm trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng.
- Các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động bảo hiểm đầu tư và xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.
Phạm vi áp dụng của chế độ bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng
- Chế độ bảo hiểm áp dụng đối với toàn bộ quá trình thực hiện dự án đầu tư và xây dựng, bao gồm các công việc từ khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị cho đến khi công trình được bàn giao, đưa vào sử dụng và trong thời hạn bảo hành công trình.
- Các loại hình bảo hiểm bắt buộc phải thực hiện bao gồm bảo hiểm công trình xây dựng, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng, bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba, và bảo hiểm tai nạn đối với người lao động làm việc trên công trường.
Nguyên tắc tham gia bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng
- Tính bắt buộc đối với dự án vốn nhà nước: Các dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bắt buộc phải tham gia bảo hiểm công trình và các loại hình bảo hiểm trách nhiệm liên quan theo quy định tại Thông tư này. Chi phí mua bảo hiểm được tính vào tổng mức đầu tư và dự toán kinh phí của công trình.
- Tính tự nguyện đối với các nguồn vốn khác: Khuyến khích các chủ đầu tư và nhà thầu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước tham gia bảo hiểm theo các điều kiện, điều khoản quy định tại Thông tư này để phòng ngừa rủi ro tài chính.
- Nguyên tắc thỏa thuận và tuân thủ pháp luật: Việc giao kết hợp đồng bảo hiểm phải dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận giữa các bên, nhưng không được trái với các quy định tối thiểu về phí bảo hiểm, mức khấu trừ và phạm vi bảo hiểm do Bộ Tài chính ban hành.
Quy định về hợp đồng bảo hiểm và trách nhiệm của các bên
- Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản, xác định rõ đối tượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm và thủ tục giải quyết tranh chấp.
- Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, giải thích rõ ràng các quy tắc, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; thực hiện giám định tổn thất kịp thời và bồi thường thiệt hại đầy đủ, đúng thời hạn thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
- Bên mua bảo hiểm (chủ đầu tư hoặc nhà thầu) có nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực, đầy đủ về đối tượng bảo hiểm; thực hiện nghiêm túc các biện pháp an toàn, phòng chống cháy nổ, hạn chế tổn thất tại công trường; đóng phí bảo hiểm đầy đủ và thông báo ngay cho doanh nghiệp bảo hiểm khi xảy ra sự cố.
Thông tư 76/2003/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây của Bộ Tài chính về bảo hiểm công trình xây dựng trái với quy định tại Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 76/2003/TT-BTC | Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2003 |
Căn cứ Luật kinh doanh bảo hiểm ngày 09 tháng 12 năm 2000;
Căn cứ Nghị định số 42/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm;
Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30 tháng 01 năm 2003 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08 tháng 7 năm 1999 và Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2000 của Chính phủ.
Bộ Tài chính hướng dẫn về bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng như sau:
1. Khi tiến hành công tác đầu tư và xây dựng thuộc các dự án đầu tư, các tổ chức và cá nhân có liên quan (kể cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng và hoạt động thi công xây lắp công trình tại Việt Nam) thực hiện mua bảo hiểm theo quy định tại Thông tư này để ứng phó với thiệt hại phát sinh do những rủi ro bất ngờ, không lường trước được hoặc do lỗi, thiếu sót, sự bất cẩn của các tổ chức, cá nhân trong quá trình đầu tư và xây dựng.
Bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng đối với các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
2. Việc mua bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng của các tổ chức và cá nhân phải thực hiện tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam.
3. Quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng áp dụng theo quy định hiện hành của Bộ Tài chính.
1. Các sản phẩm bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng bao gồm:
1.1. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng.
1.2. Bảo hiểm công trình xây dựng.
1.3. Bảo hiểm cho vật tư, thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công.
1.4. Bảo hiểm tai nạn đối với người lao động.
1.5. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba.
2. Đối tượng bảo hiểm bắt buộc:
2.1. Bảo hiểm công trình xây dựng thực hiện đối với các dự án đầu tư có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước.
Đối với các dự án đầu tư sử dụng các nguồn vốn khác, Nhà nước khuyến khích mua bảo hiểm công trình xây dựng.
2.2. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng; bảo hiểm cho vật tư, thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công; bảo hiểm tai nạn đối với người lao động; bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba thực hiện việc mua bảo hiểm bắt buộc đối với các tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng và hoạt động thi công xây lắp công trình, không phân biệt nguồn vốn đầu tư.
3. Bên mua bảo hiểm bao gồm: chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án), tổ chức (hoặc cá nhân) tư vấn đầu tư và xây dựng, doanh nghiệp xây dựng.
3.1. Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng: Bên mua bảo hiểm là các tổ chức (hoặc cá nhân) tư vấn đầu tư và xây dựng.
3.2. Đối với bảo hiểm công trình xây dựng: Bên mua bảo hiểm là chủ đầu tư (hoặc ban quản lý dự án). Trường hợp phí bảo hiểm đã được tính vào giá trúng thầu thì nhà thầu thực hiện việc mua bảo hiểm.
3.3. Đối với bảo hiểm vật tư, thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công; bảo hiểm tai nạn đối với người lao động; bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba: Bên mua bảo hiểm là các doanh nghiệp xây dựng.
4. Hạch toán phí bảo hiểm:
4.1. Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng: Phí bảo hiểm được tính vào giá thành sản phẩm tư vấn.
4.2. Đối với bảo hiểm công trình xây dựng: Phí bảo hiểm là một bộ phận vốn đầu tư của dự án và được tính trong tổng dự toán (dự toán) công trình. Phí bảo hiểm được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) so với giá trị công trình.
4.3. Đối với bảo hiểm cho vật tư, thiết bị, nhà xưởng phục vụ thi công; bảo hiểm tai nạn đối với người lao động; bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với người thứ ba: Phí bảo hiểm được tính vào chi phí sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng.
5. Khi xảy ra sự cố thuộc trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho bên mua bảo hiểm theo đúng các điều kiện và điều khoản của hợp đồng bảo hiểm.
Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo và thay thế Thông tư số 137/1999/TT-BTC ngày 19 tháng 11 năm 1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn bảo hiểm công trình xây dựng.
Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu, giải quyết.
| Nguyễn Công Nghiệp (Đã ký) |
- 1Nghị định 52/1999/NĐ-CP ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng
- 2Thông tư 137/1999/TT-BTC hướng dẫn bảo hiểm công trình xây dựng do Bộ Tài chính ban hành
- 3Nghị định 12/2000/NĐ-CP sửa đổi Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định 52/1999/NĐ-Cp
- 4Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000
- 5Nghị định 42/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Luật kinh doanh bảo hiểm
- 6Nghị định 07/2003/NĐ-CP sửa đổi Quy chế quản lý đầu tư xây dựng ban hành kèm Nghị định 52/1999/NĐ-CP và Nghị định 12/2000/NĐ-CP
- 7Nghị định 119/2015/NĐ-CP quy định bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng
Thông tư 76/2003/TT-BTC hướng dẫn về bảo hiểm trong đầu tư và xây dựng do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 76/2003/TT-BTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 04/08/2003
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Nguyễn Công Nghiệp
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 132
- Ngày hiệu lực: 02/09/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
