Thông tư số 683/HCTP được ban hành năm 1958 bởi Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính nhằm quy định chi tiết về việc trang bị các phương tiện phòng ngừa dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe và chế độ phụ cấp đặc thù dành cho cán bộ, nhân viên y tế trực tiếp thực hiện nhiệm vụ khám nghiệm tử thi phục vụ công tác điều tra, xét xử.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với tất cả các hoạt động khám nghiệm tử thi được trưng cầu bởi cơ quan tư pháp trên phạm vi toàn quốc. Đối tượng được hưởng các chế độ trang bị bảo hộ và phụ cấp bao gồm bác sĩ pháp y, cán bộ y tế trực tiếp giải phẫu tử thi, cán bộ giúp việc, người ghi biên bản và các nhân viên phục vụ công tác vệ sinh, tiêu độc khử trùng tại hiện trường hoặc phòng khám nghiệm.
- Quy định về trang bị phòng ngừa và bảo hộ lao động
- Cán bộ trực tiếp thực hiện khám nghiệm tử thi phải được trang bị đầy đủ các phương tiện bảo hộ cá nhân tối thiểu bao gồm: găng tay cao su chuyên dụng, khẩu trang y tế, quần áo bảo hộ, tạp dề chống thấm nước và ủng cao su để ngăn ngừa nguy cơ lây nhiễm các bệnh truyền nhiễm từ tử thi.
- Cung cấp đầy đủ các loại hóa chất sát trùng, thuốc tẩy uế và xà phòng để cán bộ thực hiện việc tiêu độc, khử trùng cá nhân cũng như vệ sinh sạch sẽ khu vực khám nghiệm sau khi hoàn thành công việc.
- Các cơ quan trưng cầu giám định có trách nhiệm phối hợp với cơ quan y tế địa phương để bảo đảm nguồn cung cấp dụng cụ bảo hộ kịp thời, không để xảy ra tình trạng thiếu hụt gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cán bộ chuyên môn.
- Chế độ phụ cấp đối với cán bộ khám nghiệm tử thi
- Thiết lập mức phụ cấp đặc thù tính theo từng ca khám nghiệm tử thi, phân định rõ ràng giữa người thực hiện giải phẫu chính (bác sĩ, giám định viên) và các nhân viên trợ giúp (người phụ mổ, người ghi chép biên bản, người làm công tác vệ sinh).
- Mức phụ cấp được điều chỉnh linh hoạt dựa trên tính chất phức tạp của từng ca bệnh, mức độ phân hủy của tử thi hoặc môi trường thực hiện khám nghiệm (tại nhà xác chuyên dụng hoặc ngoài thực địa, vùng sâu vùng xa).
- Khoản phụ cấp này nhằm bù đắp một phần hao phí lao động, độc hại và rủi ro sức khỏe mà cán bộ phải đối mặt trong quá trình thực thi nhiệm vụ tư pháp.
- Nguồn kinh phí và thủ tục chi trả phụ cấp
- Kinh phí chi trả cho việc mua sắm trang thiết bị phòng ngừa và thanh toán phụ cấp khám nghiệm tử thi được trích từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động tư pháp và y tế theo kế hoạch tài chính hàng năm.
- Thủ tục thanh toán yêu cầu phải có quyết định trưng cầu giám định pháp y của cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra) kèm theo biên bản khám nghiệm tử thi hợp lệ có chữ ký xác nhận của các bên liên quan.
- Cơ quan tài chính có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, chứng từ và thực hiện quyết toán, chi trả trực tiếp, kịp thời cho các cá nhân được hưởng chế độ theo đúng định mức quy định, tránh gây phiền hà hoặc chậm trễ.
Hiệu lực thi hành
Thông tư số 683/HCTP năm 1958 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính liên quan đến chế độ trang bị bảo hộ và phụ cấp khám nghiệm tử thi trái với tinh thần của Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TƯ PHÁP-BỘ TÀI CHÍNH | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 683/HCTP | Hà Nội, ngày 09 tháng 04 năm 1958 |
VỀ VIỆC TRANG BỊ PHÒNG NGỪA VÀ PHỤ CẤP CHO CÁN BỘ KHÁM TỬ THI
LIÊN BỘ TƯ PHÁP – TÀI CHÍNH
| Kính gửi: | -Các Tòa án nhân dân khu, thành phố và tỉnh |
Tiếp theo Thông tư số 2795-HCTP ngày 12/12/1956 của Liên Bộ Tư pháp – Y tế quy định tổ chức và thủ tục giám định pháp y này sau khi lấy ý kiến của Bộ Công an và Bộ Y tế. Liên bộ quy định sau đây việc trang bị phòng ngừa nhiễm độc nhiễm trùng và phụ cấp cho cán bộ có trách nhiệm khám tử thi.
Các Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố, các Ty Công an tỉnh và Sở Công an thành phố được dự trù và sắm cho đơn vị mình một bộ gồm áo choàng, mũ và khẩu trao vải trắng, khi cần thiết có thể mua rượu cồn 900 xà phòng và thuốc phòng nhiễm trùng, độc dùng khi khám tử thi. Đối với Ty Y tế tỉnh và sở Y tế thành phố, nếu nơi nào chưa sắm áo choàng và găng tay cao su dùng khi mổ xẻ thì có thể sắm một bộ.
Các khoản chi tiêu trên sẽ do dự toán mỗi ngành đài thọ.
A. - Khám tử thi.
| Tử thi người chết còn trong 48 giờ: Y sĩ, Bác sĩ, mỗi lần | 1.000đ |
| Tử thi người chết đã qúa 48 giờ hay khai quật: Y sĩ, Bác sĩ, mỗi lần | 1.500đ |
| Cán bộ công an phụ trách căn cước lấy dấu vết hình dạng, vết thương của tử thi mỗi lần | 800đ |
B. - Khám có mổ tử thi.
| Tử thi người chết còn trong 48 giờ: Y sĩ, Bác sĩ, mỗi lần Y tá hay hộ lý giúp việc | 2.000đ 500đ |
| Tử thi người chết đã quá 48 giờ hay khai quật: Y sĩ, Bác sĩ, mỗi lần Y tá hay hộ lý giúp việc | 4000đ 1.000đ |
Phụ cấp cho cán bộ và phí tổn nhân công nói trên sẽ do tòa án nhân dân địa phương dự chi và thanh toán vào khoản nghiệp vụ phí của ngành Tư pháp. Khoản quy định về phụ cấp được áp dụng bắt đầu từ ngày ký Thông tư này. Đối với các y sĩ, bác sĩ đã khám tử thi trước ngày này, nhưng chưa được lĩnh phụ cấp theo quy định của Thông tư số 1089-BYTTT ngày 18/12/1956 của Bộ Y tế đình chỉ thi hành tháng 6/1957 thì được truy lĩnh phụ cấp khám tử thi theo quy định mới của Thông tư này.
Như trên đã quy định, trong công tác khám nghiệm tử thi thì người chết khả nghi, vấn đề chủ yếu là bảo vệ sức khỏe cho tất cả mọi người cùng tiếp xúc với tử thi bằng cách trang bị phòng nhiễm độc, trùng. Còn về phụ cấp thì chỉ giải quyết cho những cán bộ, nhân viên trực tiếp sờ mó vào xác chết tương đối lâu. Do đó chỉ giải quyết phụ cấp cho các bác sĩ, y sĩ giám định viên, y tá hay hộ lý giúp việc mổ xẻ và cán bộ công an phụ trác căn cước. Tính chất phụ cấp là thù lao cho một công tác có ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng đối với bác sĩ và y sĩ giám định viên thì trong mức phụ cấp có tính đến công sức nghiên cứu xét nghiệm khoa học của các vị này.
| K. T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH | BỘ TRƯỞNG |
Thông tư 683/HCTP năm 1958 về việc trang bị phòng ngừa và phụ cấp cho cán bộ khám tử thi do Bộ Tư pháp- Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 683/HCTP
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 09/04/1958
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp
- Người ký: Trịnh Văn Bính, Vũ Đình Hoè
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 24/04/1958
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
