Thông tư 433-TT-1976 do Bộ Nội vụ ban hành nhằm bổ sung và hướng dẫn chi tiết về các thủ tục đăng ký hộ khẩu, quản lý cư trú, di chuyển hộ khẩu, đăng ký tạm trú và các thay đổi liên quan đến hộ tịch, hộ khẩu trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với mọi công dân, hộ gia đình, hộ tập thể tại Việt Nam khi thực hiện các thủ tục liên quan đến hộ khẩu; đồng thời quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan Công an các cấp (từ Công an xã, thị trấn đến Sở, Ty Công an) trong việc quản lý và giải quyết thủ tục đăng ký hộ khẩu.
1. Thủ tục đăng ký chuyển đi (Thay đổi nơi thường trú)
- Chuyển chỗ ở trong phạm vi hẹp (Điều 1): Trường hợp cả hộ hoặc cá nhân chuyển chỗ ở trong phạm vi một xã, một thị trấn, một thị xã, một khu phố, hoặc một thành phố không chia khu phố thì chủ hộ hoặc người chuyển đi chỉ cần đến báo với Công an xã, thị trấn, thị xã hoặc đồn công an nơi cư trú để ghi nhận sự thay đổi vào sổ hộ tịch, hộ khẩu.
- Chuyển chỗ ở ngoài phạm vi hẹp (Điều 2): Phải báo với cơ quan quản lý hộ khẩu nơi đi để cấp giấy chứng nhận chuyển đi và xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu. Thẩm quyền giải quyết được phân cấp cụ thể:
- Công an xã, thị trấn và đồn công an: Giải quyết cho các trường hợp chuyển đi các xã trong cùng tỉnh, thành phố (trừ vùng biên phòng, hải đảo, vùng xung yếu); chuyển giữa các khu phố trong cùng thành phố, thị xã; chuyển từ nội thành/nội thị ra ngoại thành/ngoại thị; xóa tên người nhập ngũ, đi tù, đi cải tạo hoặc đi trường phổ thông công, nông nghiệp.
- Công an huyện, thị xã, khu phố và công an thành phố thuộc tỉnh: Giải quyết cho người chuyển đi các xã thuộc tỉnh, thành phố khác (trừ vùng biên phòng, hải đảo, vùng xung yếu); cán bộ, công nhân viên được điều động công tác, đi học, hoặc người được tuyển dụng vào cơ quan, xí nghiệp, trường đại học, trung học chuyên nghiệp phải chuyển hộ khẩu thường trú.
- Sở, Ty Công an: Quyết định việc chuyển đến thành phố, thị xã, các xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế trong phạm vi địa phương; quyết định việc chuyển từ ngoại thành, ngoại thị vào nội thành, nội thị trong cùng phạm vi thành phố, thị xã.
- Chuyển đến các địa bàn đặc thù (Điều 3): Đối với trường hợp xin chuyển đến các khu phố thuộc thành phố Hà Nội, Hải Phòng và các xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, vùng xung yếu thuộc tỉnh, thành phố khác, Sở/Ty Công an nơi đi phải trao đổi và được sự đồng ý bằng văn bản của Sở/Ty Công an nơi đến trước khi cấp giấy chuyển đi. Thời hạn trả lời kết quả giữa các Sở/Ty Công an là không quá 10 ngày kể từ khi nhận được giấy tờ.
- Hồ sơ, giấy tờ cần thiết khi làm thủ tục chuyển đi (Điều 4): Người đi làm thủ tục phải mang theo: Giấy chứng minh hoặc chứng nhận căn cước (nếu có); Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú (đối với thành phố, thị xã); Quyết định công tác, nhập ngũ, đi học, về hưu hoặc thôi việc; Bản khai thay đổi nơi thường trú (miễn đối với cán bộ điều động, người nhập ngũ, người đi tù/cải tạo); Giấy cho phép đăng ký nhân khẩu thường trú do Sở/Ty Công an nơi đến cấp (đối với vùng đặc thù). Đối với người bị bắt giam, đi tù, đi cải tạo, cơ quan ra lệnh có trách nhiệm thông báo cho công an hộ khẩu để xóa tên; khi được tha về sẽ giải quyết đăng ký lại theo nguyên tắc chung.
- Quy trình giải quyết bản khai chuyển chỗ ở (Điều 5): Bản khai xin chuyển chỗ ở ngoài phạm vi thông thường được nộp cho Công an huyện hoặc đồn Công an để xem xét và đề xuất lên Sở, Ty Công an. Trong thời hạn tối đa 10 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ từ cấp dưới chuyển lên, Sở, Ty Công an phải xem xét, nếu đủ điều kiện thì cấp giấy chứng nhận chuyển đi, nếu không đủ điều kiện phải trả lại đơn và nêu rõ lý do cho đương sự. Công an cấp cơ sở khi nhận được giấy tờ từ Sở, Ty Công an gửi về sẽ tiến hành xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu và giao giấy tờ cho đương sự để di chuyển.
2. Thủ tục đăng ký chuyển đến (Điều 6, Điều 7)
- Căn cứ đăng ký (Điều 6): Mọi trường hợp đăng ký thường trú cho người từ nơi khác chuyển đến bắt buộc phải căn cứ vào giấy chứng nhận chuyển đi và các giấy tờ hợp lệ đi kèm theo quy định.
- Thời hạn đăng ký (Điều 7): Khi đến nơi ở mới, chủ hộ hoặc đương sự phải mang đầy đủ giấy tờ đến cơ quan Công an có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký hộ khẩu trong thời hạn:
- Không quá 3 ngày nếu chuyển đến thành phố, thị xã, thị trấn.
- Không quá 5 ngày nếu chuyển đến khu vực nông thôn.
- Đăng ký cho hộ tập thể: Đối với các hộ tập thể có nhiều người di chuyển cùng lúc, Công an cấp huyện, thị xã, khu phố phải tập trung lực lượng giải quyết nhanh chóng, tránh gây phiền hà hoặc làm ảnh hưởng đến công tác, sản xuất, học tập của cán bộ, công nhân viên.
3. Thủ tục đăng ký tạm trú (Điều 8, Điều 9, Điều 10)
- Khai báo tạm trú ban đêm (Điều 8): Khi có người từ địa phương khác đến tạm trú ban đêm tại hộ gia đình hoặc hộ tập thể, người đại diện hộ hoặc khách tạm trú phải mang giấy tờ tùy thân (giấy chứng minh, chứng nhận căn cước) đến khai báo với đồn, trạm công an hoặc công an xóm, bản gần nhất ngay trong ngày. Nếu khách đến muộn sau 23 giờ thì có thể khai báo vào ngày hôm sau. Trường hợp khách đi ngay trong đêm hoặc sáng sớm hôm sau thì phải khai báo trước khi đi.
- Các trường hợp miễn khai báo hoặc chỉ khai báo một lần (Điều 9):
- Người trong cùng một xã, thị trấn, thị xã, thành phố đến tạm trú đêm thì không phải khai báo (riêng tại Hà Nội và Hải Phòng, việc di chuyển tạm trú qua lại giữa nội thành và ngoại thành vẫn bắt buộc phải khai báo).
- Khách tạm trú là người thân ruột thịt (ông bà, bố, mẹ, vợ, chồng, con) chỉ cần khai báo một lần đầu tiên, các lần tạm trú sau đó không phải khai báo lại.
- Tổ chức tiếp nhận khai báo (Điều 10): Sở, Ty Công an có trách nhiệm nghiên cứu tổ chức các trạm và phân công cán bộ thường trực đăng ký tạm trú để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân. Các hộ tập thể ở xa cơ quan công an cấp huyện hoặc đồn, trạm công an có thể khai báo tạm trú trực tiếp với Công an xã nơi cư trú.
4. Đăng ký các thay đổi khác về hộ khẩu (Điều 11, Điều 12)
- Chia hộ, hợp hộ (Điều 11): Việc giải quyết lập hộ mới, chia hộ hoặc hợp hộ phải tuân thủ các điều kiện chặt chẽ:
- Lập hộ mới hoặc hợp hộ: Áp dụng cho những người đã đăng ký thường trú trong cùng một phạm vi hành chính (xã, thị trấn, thị xã, thành phố), thực tế ăn ở chung một nhà, có quan hệ tình cảm và kinh tế gắn bó. Đối với hộ tập thể, phải là những người cùng công tác, học tập trong một cơ quan, xí nghiệp, trường học.
- Chia hộ: Phải căn cứ vào nguồn thu chi tài chính độc lập của mỗi hộ làm điều kiện quyết định, không dựa vào số lượng thành viên nhiều hay ít để giải quyết.
- Thẩm quyền giải quyết: Ủy ban hành chính xã giải quyết đối với khu vực nông thôn; Công an khu phố, công an thành phố thuộc tỉnh hoặc công an thị xã giải quyết đối với khu vực thành phố, thị xã.
- Thay đổi thông tin hộ tịch, hộ khẩu (Điều 12): Khi có quyết định của Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính ngày tháng năm sinh hoặc các thay đổi hộ tịch khác, đương sự phải mang quyết định kèm theo giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú đến Ủy ban hành chính xã, thị trấn hoặc Công an cấp huyện/thị xã/khu phố nơi cư trú để đăng ký cập nhật sự thay đổi.
5. Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành (Điều 13 đến Điều 17)
- Trách nhiệm tiếp dân (Điều 13, Điều 15): Các địa phương phải niêm yết công khai ngày, giờ tiếp dân giải quyết đăng ký hộ khẩu tại trụ sở. Các đơn vị trực tiếp làm công tác đăng ký không được tự ý đóng cửa hoặc từ chối tiếp dân trong khung giờ đã quy định. Nội dung của thông tư này phải được phổ biến rộng rãi và niêm yết công khai tại các điểm tiếp dân.
- Tính thống nhất trong thực hiện (Điều 14): Mọi thủ tục đăng ký hộ khẩu phải được thực hiện thống nhất theo quy định tại thông tư này. Các địa phương tuyệt đối không được tự ý thay đổi hoặc đặt ra các quy định riêng gây phiền hà cho nhân dân và tạo sơ hở trong quản lý. Mọi vướng mắc phát sinh phải báo cáo Bộ Nội vụ để nghiên cứu, bổ sung.
- Khen thưởng và kỷ luật (Điều 16): Biểu dương, khen thưởng các đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý hộ khẩu. Các trường hợp vi phạm quy định tại thông tư này sẽ bị xử lý nghiêm theo Điều 20 của Điều lệ đăng ký quản lý hộ khẩu ban hành kèm theo Nghị định 104-CP ngày 27-6-1964 của Hội đồng Chính phủ.
- Hiệu lực thi hành (Điều 17): Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây về thủ tục đăng ký hộ khẩu trái với thông tư này đều bị bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | VIÊT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 433-TT | Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 1976 |
Ngày 27 tháng 6 năm 1964, Hội đồng Chính phủ đã ra nghị định số 104-CP về việc ban hành điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu.
Ngày 24 tháng 9 năm 1964, Bộ Công an đã có thông tư số 1005-P3/C57 giải thích và hướng dẫn thi hành điều lệ nói trên của Hội đồng Chính phủ.
Trong quá trình thực hiện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban hành chính các cấp, công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu đã phát huy tác dụng trong việc bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội, phục vụ lợi ích của nhân dân, phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng, chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phục vụ quản lý kinh tế, quản lý lao động, v.v…
Tuy nhiên, công tác quản lý hộ khẩu cũng còn nhiều thiếu sót, sơ hở. Việc chấp hành những quy định trong điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu chưa được nghiêm chỉnh. Một số quy định về thủ tục đăng ký hộ khẩu chưa được hợp lý nên đã gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân trong việc khai báo, và tạo ra những sơ hở trong công tác quản lý.
Để khắc phục những thiếu sót khuyết điểm nói trên, Bộ Nội vụ ra thông tư này để bổ sung và hướng dẫn cụ thể việc thi hành những thủ tục về đăng ký hộ khẩu như sau.
a) Công an xã, công an thị trấn và đồn công an giải quyết thủ tục di chuyển hộ khẩu những trường hợp:
- Cấp giấy chứng nhận chuyển đi và xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu những hộ hoặc những người trong hộ chuyển đi các xã trong phạm vi tỉnh, thành phố (trừ những xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế), từ khu phố này đến khu phố khác trong phạm vi thành phố, thị xã hoặc từ nội thành, nội thị chuyển ra các xã ngoại thành, ngoại thị (trừ trường hợp từ ngoại thành, ngoại thị chuyển vào nội thành, nội thị)
- Xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu của những người có quyết định được tuyển vào lực lượng vũ trang nhân dân thường trực.
- Xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu của những người có lệnh bắt đi tù, đi tập trung cải tạo, đi các trường phổ thông công, nông nghiệp.
b) Công an huyện, công an thị xã, công an khu phố và công an thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận chuyển đi và xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu những trường hợp:
- Những người chuyển đi các xã thuộc các tỉnh, thành phố khác (trừ những xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo và khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế)
- Những cán bộ, công nhân viên có quyết định điều động công tác, đi học, hoặc những người có quyết định được tuyển vào cơ quan, xí nghiệp, vào học ở các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, mà phải chuyển hộ khẩu thường trú đến nơi công tác, học tập.
c) Sở, Ty công an cấp giấy chứng nhận di chuyển cho nhân dân chuyển đến thành phố, thị xã và các xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, các khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế trong phạm vi địa phương mình.
Nhân dân ở các xã ngoại thành, ngoại thị chuyển vào nội thành, nội thị cùng trong phạm vi thành phố, thị xã đều do Sở, Ty công an quyết định.
Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ khi nhận được giấy tờ, Sở, Ty công an nơi có người xin chuyển đến phải trả lời kết quả cho Sở, Ty công an nơi có người xin đi.
- Giấy chứng minh hoặc chứng nhận căn cước của những người chuyển đi (nếu đã được cấp);
- Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú của những hộ gia đình ở thành phố, thị xã và nơi khác đã được cấp;
- Quyết định công tác, nhập ngũ, đi học hoặc về hưu, thôi việc;
- Bản khai thay đổi nơi thường trú (trừ những trường hợp là cán bộ công nhân viên có quyết định điều động công tác, những người được tuyển vào lực lượng vũ trang nhân dân, hoặc những người có lệnh bắt đi tù, đi tập trung cải tạo, đi trường phổ thông công, nông nghiệp thì không phải làm bản khai thay đổi nơi thường trú);
- Giấy cho phép những người đăng ký nhân khẩu thường trú (do các Sở, Ty công an cấp cho những người được chuyển đến thành phố, thị xã và các xã thuộc khu vực biên phòng, bờ biển, hải đảo, các khu vực xung yếu về chính trị, quốc phòng, kinh tế)
Đối với những người có lệnh bắt giam, bắt đi tù, đi tập trung cải tạo, có giấy gọi đi trường phổ thông công, nông nghiệp, thì cơ quan ra lệnh bắt giam, bắt đi tù... thông báo cho các đơn vị công an phụ trách công tác quản lý hộ khẩu địa phương biết để xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu của những người đó. Khi nào có lệnh tha họ trở về sẽ được giải quyết đăng ký hộ khẩu theo nguyên tắc quy định.
Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ khi nhận được bản khai xin chuyển chỗ ở của nhân dân, do các đơn vị công an cấp dưới chuyển lên, Sở, Ty công an phải căn cứ vào điểm 3 về đăng ký chuyển chỗ ở quy định trong thông tư số 1005-P3/C57 ngày 24-9-1964 của Bộ Công an để nghiên cứu xem xét. Nếu thấy có đủ điều kiện cho chuyển đến những nơi mà đương sự yêu cầu, thì cấp giấy chứng nhận chuyển đi; nếu thấy không có đủ điều kiện cho chuyển đến những nơi đó phải trả lại đơn và nói rõ lý do cho đương sự biết.
Công an xã, công an thị trấn, thị xã, hoặc đồn công an khi nhận được giấy chứng nhận chuyển đi và giấy cho phép đăng ký nhân khẩu thường trú do Sở, Ty công an gửi về phải tiến hành xóa tên trong sổ hộ tịch, hộ khẩu của những người chuyển đi và giao giấy tờ cho đương sự để chuyển đi.
Việc đăng ký thường trú phải tiến hành trực tiếp với từng người (sẽ có kế hoạch hướng dẫn tiến hành cụ thể riêng).
Đối với những hộ tập thể có nhiều người chuyển đi, chuyển đến cùng một thời gian, các đơn vị công an huyện, thị xã, khu phố cần tập trung lực lượng để giải quyết đăng ký hộ khẩu được nhanh chóng, không để cán bộ, công nhân viên phải chờ đợi lâu, ảnh hưởng đến công tác, sản xuất, học tập.
- Người cùng một xã, một thị trấn, một thị xã, một thành phố đến tạm trú đêm không phải khai báo.
- Riêng đối với thành phố Hà-nội, Hải-phòng nếu người ở các xã ngoại thành vào tạm trú ban đêm trong nội thành, hoặc người trong nội thành ra tạm trú ở các xã ngoại thành đều phải khai báo.
- Những người đến tạm trú có quan hệ là: ông bà, bố, mẹ, vợ, chồng, con, chỉ cần khai báo một lần đầu, những lần sau đến tạm trú không phải khai báo.
Điều 4 của Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu do nghị định số 104-CP ngày 27-6-1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành, đã quy định: “Một hộ gồm những người ăn ở chung với nhau trong một nhà riêng hoặc trong nhà tập thể của cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, trường học... Một người ăn ở riêng một mình cũng kể như một hộ”
Theo quy định trên, việc giải quyết lập một hộ mới cũng như chia một hộ ra nhiều hộ, hoặc hợp nhiều hộ vào một hộ, phải căn cứ vào những điều kiện sau đây:
a) Lập một hộ mới hoặc hợp nhiều hộ vào một hộ phải là những người có đăng ký hộ khẩu thường trú ở cùng một thành phố, một thị xã, một thị trấn hoặc một xã, thường xuyên cùng ở chung trong một nhà, có quan hệ về tình cảm và kinh tế. Riêng đối với hộ tập thể phải là những người công tác, học tập cùng trong một cơ quan, xí nghiệp, trường học…
b) Chia một hộ ra làm hai hoặc nhiều hộ: phải căn cứ vào nguồn thu chi riêng của mỗi hộ là điều kiện chủ yếu, không lấy điều kiện số người trong mỗi hộ nhiều hay ít để giải quyết.
Việc chia hộ, hợp hộ: ở nông thôn do Ủy ban hành chính xã, ở thành phố, thị xã do công an khu phố, công an thành phố thuộc tỉnh hoặc công an thị xã giải quyết.
Những đơn vị và cá nhân nào vi phạm các điều quy định trong thông tư này sẽ bị xử lý theo điều 20 của điều lệ đăng ký quản lý hộ khẩu do nghị định số 104-CP ngày 27-6-1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành.
Điều 17. – Những thủ tục quy định về đăng ký hộ khẩu trước đây trái với thông tư này đều bãi bỏ.
Thông tư này có giá trị thi hành kể từ ngày ký.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ THỨ TRƯỞNG
Lê Quốc Thân |
Thông Tư 433-TT-1976 bổ sung và hướng dẫn về thủ tục đăng ký hộ khẩu do Bộ Nội Vụ ban hành
- Số hiệu: 433-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 19/06/1976
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Lê Quốc Thân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 13
- Ngày hiệu lực: 19/06/1976
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
