Thông tư 36-LB/TT được ban hành năm 1957 bởi Liên bộ Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính, hướng dẫn về chế độ trợ cấp giữ trẻ dành cho cán bộ, công nhân, viên chức. Đây là một trong những chính sách xã hội quan trọng trong thời kỳ đầu xây dựng đất nước, nhằm hỗ trợ đời sống cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ có con nhỏ, giúp họ yên tâm công tác và sản xuất.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với các đối tượng là cán bộ, công nhân, viên chức công tác tại các cơ quan hành chính sự nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh, các tổ chức đoàn thể có con nhỏ trong độ tuổi gửi trẻ và đáp ứng các điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước tại thời điểm ban hành.
Các nội dung cốt lõi của chính sách trợ cấp giữ trẻ
Dựa trên các quy định ban đầu từ Điều 1 đến Điều 4 và tinh thần chung của văn bản, các chính sách cốt lõi bao gồm:
- Điều kiện và tiêu chuẩn hưởng trợ cấp: Xác định rõ các tiêu chí về độ tuổi của trẻ em được nhận trợ cấp, hoàn cảnh gia đình của cán bộ, công nhân viên chức (như mức thu nhập, số lượng con nhỏ, tình trạng công tác của bố mẹ) để làm căn cứ xét duyệt hỗ trợ.
- Mức trợ cấp giữ trẻ: Quy định cụ thể về mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước hoặc quỹ phúc lợi của cơ quan, xí nghiệp nhằm bù đắp một phần chi phí gửi trẻ, trông nom trẻ cho người lao động.
- Nguồn kinh phí chi trả: Làm rõ việc phân bổ nguồn vốn chi trả trợ cấp, bao gồm ngân sách trung ương, ngân sách địa phương hoặc quỹ tự chủ của các xí nghiệp quốc doanh.
- Thủ tục và quy trình xét duyệt: Hướng dẫn các bước lập hồ sơ, kê khai thông tin gia đình, xác nhận của cơ quan quản lý trực tiếp và bộ phận tài vụ để đảm bảo việc chi trả trợ cấp đúng đối tượng, công khai và minh bạch.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 36-LB/TT năm 1957 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức đoàn thể có trách nhiệm phổ biến, hướng dẫn và tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản quy định nhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cán bộ, công nhân, viên chức.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH-BỘ NỘI VỤ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 36-LB/TT | Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 1957 |
Thông tư số 02-LB/CB ngày 16-5-1954 về vấn đề giữ trẻ ban hành đã giải quyết được nhiều khó khăn cho một số lớn chị em cán bộ, công nhân viên sống tập thể. Nhưng hiện nay còn có những chị em phải công tác lưu động, sống lẻ tẻ không có điều kiện tổ chức vườn trẻ hoặc gửi trẻ vào vườn trẻ của cơ quan nên đã gặp nhiều khó khăn trong công tác.
Để giải quyết những khó khăn của các chị em nói trên, Liên Bộ quy định:
Khoản trợ cấp này chỉ áp dụng tạm thời trong khi còn thi hành chế độ lương hiện tại.
- Đối với các cháu dưới hai năm (24 tháng) trợ cấp này bẩy nghìn (7.000 đồng) một tháng.
- Đối với các cháu trên hai năm, dưới ba năm (từ 25 đến 36 tháng) trợ cấp 3.500 đồng một tháng.
Tất cả những nữ cán bộ, công nhân viên có con nhỏ từ 1 đến 3 tuổi nếu không gửi con vào vườn trẻ cơ quan thì đều được trợ cấp.
Những chị em phải công tác lưu động, ở lẻ tẻ hoặc công tác trong một cơ quan không có điều kiện tổ chức vườn trẻ cũng được trợ cấp.
Các cháu mới sinh chỉ được hưởng trợ cấp từ khi mẹ đi làm việc sau thời kỳ nghỉ đẻ (làm việc trước ngày 15 được trợ cấp cả tháng, làm việc sau ngày 15 thì trợ cấp ½ tháng).
Chú ý: Với cơ quan đã có tổ chức vườn trẻ thì sẽ giải quyết như sau:
Đối với những vườn trẻ sẵn có, khi đặt vấn đề trợ cấp giữ trẻ (phải được cha mẹ đứa bé đảm bảo), biên chế vườn trẻ được thu xếp hợp lý (có người có việc, tránh tình trạng ngồi không ăn lương). Do đó đối với các cháu đã gửi vườn trẻ, khi giải quyết trợ cấp cơ quan phải xét kỹ; không vì quy định trợ cấp trên mà giải tán vườn trẻ đã có, gây khó khăn lúng túng cho cán bộ, công nhân viên. Những cháu bé mà bố mẹ đã đề nghị được hưởng trợ cấp giữ trẻ, nay muốn gửi lại vườn trẻ phải được cơ quan xét, quyết định với khả năng đảm bảo của vườn trẻ. Con mới đẻ của nữ cán bộ, công nhân viên sống tập thể nếu không hưởng trợ cấp thì được gửi vào vườn trẻ sẵn có của cơ quan.
Trong Thông tư số 02-LB/CB ngày 10-5-1954 có nói “cơ quan hay xí nghiệp chỉ có một cháu dưới 2 năm không đủ điều kiện để có một người trông nom nhưng là con nữ cán bộ chỉ đạo tại chức Phó trưởng phòng Ủy Ban tỉnh trở lên, Ủy viên Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện trở lên đặc biệt cũng được một người trông nom”. Đó là quy định trong thời kháng chiến, nay có chế độ trợ cấp do thông tư này quy định thì điều nói trên không còn áp dụng nữa.
*****
Việc trợ cấp này là để giải quyết một phần khó khăn cho các chị em cán bộ, công nhân viên có đủ tiêu chuẩn gửi con vào vườn trẻ, để chị em có đủ điều kiện bảo đảm công tác chuyên môn và chỉ là một giải pháp có tính chất tạm thời trong khi ta còn duy trì chế độ lương hiện hành.
Việc trợ cấp phải xét kỹ và giải quyết cho đúng với tinh thần của Thông tư Liên bộ, tuyệt đối không được vừa có người giữ trẻ, vừa trợ cấp. Các chị em khi được trợ cấp cũng phải tự giải quyết lấy những khó khăn để có điều kiện bảo đảm công tác chuyên môn cũng như học tập sinh hoạt ở cơ quan.
Thông tư này thi hành từ 01-11-1957 và không áp dụng đối với doanh xí nghiệp.
Trong khi thực hiện các cơ quan Hành chính Sự nghiệp từ trung ương đến địa phương có gặp khó khăn trở ngại gì đề nghị cho Liên bộ chúng tôi biết để kip thời nghiên cứu và bổ sung (báo cáo lên Bộ Nội vụ).
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ | KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |
Thông tư 36-LB/TT năm 1957 về trợ cấp giữ trẻ do Bộ Nội vụ- Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 36-LB/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 19/10/1957
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính
- Người ký: Tô Quang Đẩu, Trịnh Văn Bính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 44
- Ngày hiệu lực: 01/11/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
