Thông tư 32-TC/TT do Bộ Nội vụ ban hành năm 1957 quy định về việc ấn định mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu cử và hòm phiếu. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thống nhất các biểu mẫu, công cụ phục vụ cho công tác bầu cử, bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và thống nhất trong quá trình tổ chức bỏ phiếu trên phạm vi cả nước.
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức bầu cử, Ủy ban hành chính các cấp chịu trách nhiệm chuẩn bị bầu cử, và toàn thể công dân có quyền bầu cử (cử tri) tham gia bỏ phiếu.
Quy định về mẫu thẻ cử tri (Điều 1 đến Điều 4)
- Thẻ cử tri được thiết kế theo mẫu thống nhất do Bộ Nội vụ ấn định, là giấy tờ pháp lý xác nhận quyền bầu cử của công dân tại khu vực bỏ phiếu.
- Nội dung trên thẻ cử tri phải thể hiện rõ ràng các thông tin cơ bản của cử tri bao gồm họ tên, tuổi, địa chỉ cư trú và đơn vị bầu cử tương ứng.
- Thẻ cử tri phải được cơ quan có thẩm quyền đóng dấu và cấp phát kịp thời cho công dân trước ngày bầu cử theo đúng thời hạn quy định.
Quy định về mẫu phiếu bầu cử
- Phiếu bầu cử được in ấn theo khuôn mẫu chuẩn hóa về kích thước, màu sắc và chất liệu giấy để bảo đảm tính đồng bộ và bảo mật thông tin bầu cử.
- Danh sách ứng cử viên trên phiếu bầu phải được sắp xếp rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cử tri thực hiện quyền lựa chọn của mình một cách chính xác.
Quy định về tiêu chuẩn hòm phiếu
- Hòm phiếu phải được chế tạo theo đúng kích thước và quy cách kỹ thuật do cơ quan nhà nước quy định, bảo đảm độ bền và tính an toàn trong suốt quá trình bỏ phiếu.
- Trước khi tiến hành bỏ phiếu, hòm phiếu phải được kiểm tra, niêm phong công khai trước sự chứng kiến của cử tri và các thành viên tổ bầu cử nhằm bảo đảm tính khách quan, trung thực.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 32-TC/TT năm 1957 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định về mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu cử và hòm phiếu để bảo đảm kỳ bầu cử diễn ra thành công, đúng pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 32-TC/TT | Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 1957 |
BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ
| Kính gửi: | -Ủy ban Hành chính các khu Tự Trị Thái-Mèo và Việt Bắc |
Thi hành Sắc luật số 004-SLt ngày 20-7-1957 về bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban Hành chính các cấp, Bộ Nội vụ ấn định các mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu cử và hòm phiếu như sau:
Thẻ cử tri làm bằng giấy dày hoặc bìa, màu trắng hay màu ngà, hình chữ nhật, ngang 15 phân, dọc 10 phân rưỡi.
Mặt trước thẻ cử tri có ghi các mục theo thứ tự sau đây: Họ tên cử tri, tuổi hay ngày tháng năm sinh, nơi sinh, dân tộc nam hay nữ, nghề nghịêp, chỗ ở. Ở góc bên trái có mục nhân dạng, chữ ký của cử tri.
Mặt sau thẻ cử tri chia thành những ô hình chữ nhật ngang 37 ly rưỡi, dọc 35 ly.
Mỗi lần bầu cử, tổ bầu cử sẽ đánh dấu vào một ô này để chứng nhận là cử tri cầm thẻ đó đã đến bầu. Việc đánh dấu vào thẻ cử tri chỉ nhằm mục đích đề phòng việc, một cử tri bỏ phiếu hai lần trong một cuộc bỏ phiếu, chứ không phải là một biện pháp để buộc cử tri phải đi bầu. Cử tri phải giữ thẻ đó để dùng vào các cuộc bầu cử.
MẪU THẺ CỬ TRI (khổ 15 x 10,5)
| Tỉnh (hay thành phố) Xã (hay khu phố) | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
THẺ CỬ TRI | |
| Họ và tên cử tri............................................................ Tuổi hay ngày tháng năm sinh....................................... Nơi sinh....................................................................... Dân tộc....................................................................... Nam hay nữ................................................................. Nghề nghiệp................................................................. Chỗ ở.......................................................................... ……… ngày… tháng… năm 195… | ||
| Nhân dạng ……………… ……………… | Chữ ký của cử tri | |

Mặt trước thẻ cử tri
|
| |||
Mặt sau thẻ cử tri
Phiếu bầu cử làm bằng giấy trắng, không bóng, hình chữ nhật, ngang 12 phân, dọc 17 phân.
Mặt trước lá phiếu, phía trên có in những giòng chữ:
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________
PHIẾU BẦU CỬ
Hội đồng nhân dân ... (ghi tên cấp và tên địa phương bầu cử).
Rồi đến những giòng kẻ để cử tri ghi tên người ứng cử mà cử tri chọn bầu.
Mặt sau là phiếu để trắng dành cho cơ quan lập danh sách cử tri đóng dấu.
MẪU PHIẾU BẦU CỬ
(khổ 12 x 17)

|
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
PHIẾU BẦU CỬ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN…… ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. ………………………………………….. |
Nên đặt làm hòm phiếu bằng thứ gỗ tương đối tốt, và tùy theo số cử tri nhiều hay ít, sẽ làm theo các kích thước như sau:
a) Số cử tri không quá 1.000:
Hòm phiếu: chiều dài 55 phân, chiều rộng 35 phân và chiều cao 38 phân.
b) Số cử tri trên 1.000:
Hòm phiếu: chiều dài 70 phân, chiều rộng 45phân và chiều cao 48 phân.
Giữa mặt nắp hòm phiếu chỉ có một khe hở chênh chếch, dài 10 phân, rộng 7 ly.
Hòm phiếu phải kính và có khóa.
Những hòm phiếu đã dùng trong cuộc bầu Quốc hội lần thứ nhất, hay trong các cuộc bầu Hội đồng nhân dân từ trước đến nay, nếu làm theo thể thức tưong tự như đã ấn định ở trên, dù không đúng kích thước cũng có thể mang ra dùng được.
Bộ Nội vụ mong các cấp sẽ căn cứ vào những điều đã ấn định trên nghiên cứu thi hành.
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ |
Thông tư 32-TC/TT năm 1957 về ấn định mẫu thẻ cử tri, phiếu bầu cử và hòm phiếu do Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 32-TC/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 10/10/1957
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Tô Quang Đẩu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 48
- Ngày hiệu lực: 25/10/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra

