Ngày 20 tháng 12 năm 1961, Bộ Lao động đã ban hành Thông tư 27-LĐ/TT kèm theo Bản quy tắc an toàn lao động trong việc đào đất nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và sức khỏe cho công nhân, lao động tại các công trường xây dựng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Bản quy tắc này được áp dụng bắt buộc đối với tất cả các công trường có sử dụng công nhân và lao động đào đất thuộc tất cả các ngành nghề. Đối với các công trình quy mô nhỏ như đào móng, đào mương có độ sâu không quá 1 mét, các đơn vị có thể linh hoạt áp dụng tùy theo tình hình thực tế và chất đất tại địa phương mà không nhất thiết phải thi hành đầy đủ mọi điều khoản. Tất cả cán bộ quản lý, cán bộ hướng dẫn sản xuất, công nhân và viên chức làm việc tại công trường đều có trách nhiệm học tập, hiểu rõ và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định này.
- Công tác chuẩn bị và các biện pháp an toàn chung
- Học tập quy tắc: Trước khi giao việc, công trường phải tổ chức cho toàn bộ công nhân học tập kỹ bản quy tắc an toàn. Các vấn đề kỹ thuật phát sinh chưa được quy định trong văn bản phải do cán bộ kỹ thuật của công trường trực tiếp giải quyết.
- Thảo sát thực địa: Cán bộ kỹ thuật phải tiến hành thăm dò địa chất trước khi đào để xác định chất đất, đề ra phương pháp đào phù hợp, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, thiết bị an toàn và trang bị bảo hộ lao động. Khi đào tại các vị trí nguy hiểm, cán bộ kỹ thuật phải có mặt thường xuyên để giám sát.
- Kiểm tra công cụ: Công nhân có trách nhiệm kiểm tra, sửa chữa dụng cụ làm việc trước khi lao động, tránh tình trạng công cụ bị lỏng, gãy văng ra gây tai nạn.
- Thoát nước bề mặt: Công trường phải chủ động triển khai các biện pháp thoát nước trên mặt đất tại khu vực thi công để ngăn ngừa hiện tượng sụt, lở đất.
- Cấm đào hàm ếch: Tuyệt đối nghiêm cấm việc đào đất theo kiểu hàm ếch dưới mọi hình thức.
- Khoảng cách đổ đất: Đất đào lên phải đổ cách xa miệng hố tối thiểu 0,60 mét. Trường hợp lượng đất nhiều phải đổ tạo dốc thoai thoải với góc dốc tối đa là 45 độ. Đối với hố sâu, khoảng cách đổ đất phải được tính toán xa hơn để không làm sụt lở miệng hố và bảo đảm lối đi lại thông thoáng. Khi đào bên sườn núi, phải có biện pháp ngăn ngừa đất đá lăn xuống dốc.
- Quy định về nghỉ ngơi: Tuyệt đối cấm công nhân đứng hoặc ngồi nghỉ ngơi, chờ việc trên miệng hố hoặc sát chân thành hào, hố có vách thẳng đứng đang đào dở. Trường hợp lòng hào rộng, nếu muốn đứng hoặc ngồi dưới chân thành hào thì khoảng cách an toàn tối thiểu từ vị trí đứng/ngồi đến chân thành hào phải bằng chiều cao của thành cộng thêm 1 mét.
- Bố trí nhân lực: Khi đào hào, hố có độ sâu từ 2 mét trở lên, không được để công nhân làm việc một mình mà phải bố trí tối thiểu từ hai người trở lên để hỗ trợ nhau. Trong tổ làm việc, phải bố trí xen kẽ giữa người đào và người xúc ở các vị trí lệch nhau, tránh việc người xúc làm việc ngay phía dưới người đang đào để phòng ngừa đất đá rơi trúng.
- Theo dõi vách đất: Người lao động phải thường xuyên quan sát vách đất và mặt đất phía trên trong quá trình đào. Nếu phát hiện vết nứt hoặc dấu hiệu sụt lở, phải lập tức ngừng việc và di tản ra khu vực an toàn. Sau mỗi trận mưa, cán bộ phụ trách phải kiểm tra kỹ lại toàn bộ vách hào, hố trước khi cho công nhân xuống làm việc tiếp.
- Lối lên xuống: Công trường phải lắp đặt bậc thang hoặc thang chắc chắn có tay vịn để công nhân lên xuống an toàn, nghiêm cấm việc leo trèo tự do gây sụt lở đất.
- Khu vực giáp sông ngòi: Vách đất ngăn cách giữa thùng đấu máng nước và dòng sông phải có độ dày tối thiểu là 2 mét, đồng thời phía mặt giáp sông phải được lát gỗ bảo vệ chống xói mòn. Trường hợp dòng nước chảy xiết hoặc vách đất cao, cán bộ kỹ thuật phải tính toán tăng cường độ dày và độ vững chắc của vách ngăn.
- Xử lý nguy cơ tai nạn: Khi phát hiện nguy cơ xảy ra tai nạn, cán bộ phụ trách trực tiếp phải tạm thời đình chỉ công việc ngay lập tức và báo cáo Ban chỉ huy công trường để có biện pháp xử lý kịp thời.
- Biện pháp an toàn tại các khu vực đặc biệt và công trình ngầm
- Khu vực có điện ngầm: Khi thi công tại nơi có đường dây điện ngầm, Ban chỉ huy công trường phải nghiên cứu kỹ bản vẽ hệ thống điện để lập phương án đào an toàn, đồng thời phải có sự giám sát, hướng dẫn trực tiếp tại chỗ của cán bộ hoặc công nhân kỹ thuật điện.
- Phát hiện công trình ngầm: Trong quá trình đào, nếu phát hiện các công trình ngầm chưa rõ nguồn gốc như đường ống, cáp điện, công trường phải dừng ngay việc thi công, giữ nguyên hiện trạng để điều tra và thông báo cho cơ quan quản lý công trình đó. Chỉ được tiếp tục thi công khi có sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền thuộc cơ quan quản lý công trình ngầm.
- Gặp mồ mả hoặc hố than: Nếu gặp mồ mả hoặc hố than cũ, công nhân phải ngừng đào ngay và báo cho cán bộ phụ trách để trang bị đầy đủ bảo hộ lao động và dụng cụ cần thiết. Tuyệt đối nghiêm cấm việc tự ý mở nắp quan tài hoặc chui vào hố than khi chưa kiểm tra để phòng ngừa hít phải khí độc.
- Rào chắn và biển báo: Tại các khu vực có người qua lại, các hào hố đào dở dang nếu nông thì ban đêm phải được che phủ bằng ván hoặc rào chắn trước khi nghỉ. Đối với hố sâu từ 1,50 mét trở lên, ban ngày phải đặt biển cảnh báo, ban đêm phải rào chắn xung quanh và treo đèn đỏ báo hiệu.
- Cầu qua hố sâu: Hạn chế tối đa việc làm cầu đi qua các hố sâu đang thi công dở dang. Trường hợp bắt buộc phải làm, cầu phải có tay vịn chắc chắn; phần ván cầu gối lên mép hố phải dài tối thiểu 0,50 mét; ván làm cầu phải dày ít nhất 0,025 mét và không được vượt quá chiều dài 1,50 mét nếu không có cột đỡ phía dưới. Chiều rộng cầu một chiều tối thiểu là 0,60 mét, cầu hai chiều tối thiểu là 1 mét. Tuyệt đối không vận chuyển nguyên vật liệu qua cầu khi phía dưới hố đang có người làm việc.
- Kỹ thuật an toàn khi đào thẳng vách (Đào đứng)
- Trường hợp bắt buộc phải chống vách: Phải sử dụng ván chống đỡ vách hào, hố trong các trường hợp sau:
- Đào sâu quá 1 mét đối với các loại đất mềm (đất đào bằng cuốc bàn).
- Đào sâu quá 2 mét đối với các loại đất cứng (đất phải dùng cuốc chim).
- Đào tại các khu vực có phương tiện giao thông qua lại thường xuyên hoặc gần nơi có máy móc hoạt động gây rung chấn.
- Đào móng nằm sát móng của các công trình hiện hữu (trường hợp này bộ phận thiết kế phải tính toán phương án chống đỡ bảo vệ móng công trình cũ).
- Yêu cầu kỹ thuật đối với ván chống: Khi đào đạt đến độ sâu giới hạn nêu trên, phải hoàn thành việc lắp đặt phên ván chống đỡ chắc chắn trước khi tiếp tục đào sâu thêm. Đường vận chuyển đất trên bờ phải cách mép hố tối thiểu 0,60 mét.
- Đất mềm và cát khô: Đối với đất mềm hoặc cát khô hạt nhỏ, ván chống phải được đóng khít sát nhau phủ kín toàn bộ bề mặt vách (có thể dùng phên nứa thay thế nhưng cán bộ kỹ thuật phải tính toán tăng cường cột chống tương ứng). Ván chống phải nhô cao hơn mặt đất tự nhiên tối thiểu 0,20 mét.
- Chất tải trên bờ hố: Nếu có nhu cầu xếp đặt nguyên vật liệu trên bờ hố, hệ thống ván chống phải được tính toán thiết kế đủ khả năng chịu lực nén tăng thêm từ tải trọng của vật liệu đó.
- Vận chuyển vật liệu xuống hố sâu: Đối với hố sâu trên 3 mét, việc đưa nguyên vật liệu xuống dưới phải thực hiện nhẹ nhàng; sỏi, đá và bê tông phải được dẫn xuống bằng máng hoặc phễu. Phải thiết lập hệ thống còi hiệu hoặc lệnh thống nhất để cảnh báo cho người làm việc dưới hố trước khi thả vật liệu, dưới sự điều khiển trực tiếp của cán bộ kỹ thuật. Công nhân lên xuống hố phải sử dụng thang hoặc cầu dốc có bậc và tay vịn.
- Tháo dỡ ván chống: Khi lấp hố, việc tháo dỡ ván chống phải thực hiện cuốn chiếu từ dưới lên trên, dỡ đến đâu phải lấp đất và đầm chặt ngay đến đó. Không được dỡ quá chiều cao giới hạn quy định cho mỗi loại đất. Công việc tháo dỡ phải giao cho người có kinh nghiệm thực hiện dưới sự giám sát trực tiếp của cán bộ kỹ thuật, đặc biệt là tại những vùng đất cát dễ sụt lở. Tuyệt đối không chất vật nặng lên cây chống hoặc dùng cây chống làm thang leo.
- Kỹ thuật đào đất theo ta-luy (thành nghiêng) và hình bậc thang
- Độ dốc ta-luy an toàn: Để bảo đảm đất không bị sụt lở, việc đào thành nghiêng phải tuân thủ nghiêm ngặt các thông số kỹ thuật về góc nghiêng và tỷ lệ chiều cao so với chiều rộng (H/B) như sau:
- Đối với đất rời rạc, cát, sỏi: Độ sâu dưới 3 mét áp dụng góc vách hố 39 độ (tỷ lệ 1/1,25); độ sâu trên 3 mét áp dụng góc vách hố 34 độ (tỷ lệ 1/1,50).
- Đối với đất cát pha sét: Độ sâu dưới 3 mét áp dụng góc vách hố 56 độ (tỷ lệ 1/0,67); độ sâu trên 3 mét áp dụng góc vách hố 45 độ (tỷ lệ 1/1).
- Đối với đất sét pha cát: Độ sâu dưới 3 mét áp dụng góc vách hố 56 độ (tỷ lệ 1/0,67); độ sâu trên 3 mét áp dụng góc vách hố 53 độ (tỷ lệ 1/0,75).
- Đối với đất sét: Độ sâu dưới 3 mét áp dụng góc vách hố 63 độ (tỷ lệ 1/0,50); độ sâu trên 3 mét áp dụng góc vách hố 56 độ (tỷ lệ 1/0,67).
- Đào hình bậc thang: Trường hợp đào đất theo hình bậc thang, chiều cao của mỗi bậc không được vượt quá 0,25 mét và chiều rộng mặt bậc phải đạt từ 0,35 mét trở lên để bảo đảm lối đi lại thuận tiện cho người lao động.
- Quy định an toàn khi đào giếng và đào hầm
- Chống thành giếng: Các hố khoan và giếng đào có độ sâu vượt quá 2 mét bắt buộc phải lắp đặt ván chống khít xung quanh thành giếng kết hợp văng ngang, hoặc thả ống bi bê tông (ống lù) xuống dần theo cao độ đào. Nghiêm cấm việc đào sâu vượt quá giới hạn quy định khi chưa hoàn thành hệ thống chống đỡ thành vách.
- Cấm hút thuốc: Tuyệt đối nghiêm cấm hành vi hút thuốc lá, thuốc lào khi đang làm việc dưới lòng giếng để phòng ngừa nguy cơ cháy nổ hoặc ngạt khí độc.
- Lên xuống giếng: Phải lắp đặt thang cố định hoặc làm bậc thang gắn chặt vào thành giếng để công nhân di chuyển. Trường hợp đặc biệt phải dùng dây kéo người lên xuống, dây treo phải có hệ số an toàn tối thiểu bằng 6 lần trọng lượng của người sử dụng và phải được cán bộ kỹ thuật kiểm tra chất lượng trước khi dùng. Việc kéo dây phải sử dụng thiết bị tời có chốt an toàn chống tự quay ngược, không được kéo bằng tay không. Khi dây thả chạm đáy giếng, trên tang tời phải còn lưu lại ít nhất từ 5 đến 6 vòng cáp/dây.
- Bảo hộ lao động dưới giếng: Công nhân làm việc lơ lửng ở lưng chừng giếng phải đeo dây an toàn móc chắc chắn vào thang hoặc dây neo thả từ miệng giếng. Toàn bộ công nhân dưới giếng phải đội mũ bảo hộ cứng để chống đất đá rơi trúng đầu. Suốt quá trình có người làm việc dưới lòng giếng, bắt buộc phải bố trí người cảnh giới thường trực trên miệng giếng để kịp thời xử lý các tình huống khẩn cấp.
- Yêu cầu về trình độ chuyên môn: Việc thi công đào giếng có độ sâu trên 6 mét đối với địa hình đất rắn, trên 4 mét đối với địa hình đất mềm, hoặc thi công đào hầm lò bắt buộc phải có cán bộ kỹ thuật có trình độ từ trung cấp trở lên trực tiếp phụ trách và giám sát kỹ thuật.
- Hiệu lực thi hành và chế tài xử lý vi phạm
Thông tư 27-LĐ/TT và Bản quy tắc kèm theo có hiệu lực áp dụng kể từ ngày ban hành (ngày 20 tháng 12 năm 1961). Những cá nhân do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý vi phạm các điều khoản quy định trong Bản quy tắc này dẫn đến tai nạn lao động sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước tòa án theo quy định của pháp luật hiện hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 27-LĐ/TT | Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 1961 |
BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG
| Kính gửi: | - Các Bộ |
Để ngăn chặn những tai nạn về sập đất xảy ra trên các công trường, ngày 18-06-1959 Bộ Lao động đã ban hành thông tư số 10/LĐ-TT cấm đào đất theo kiểu hàm ếch. Đến nay những tai nạn này đã giảm đi rõ rệt, nhưng nhìn chung tai nạn vì đào đất không đúng kỹ thuật còn xảy ra nhiều. Ngoài những tai nạn vì sập hàm ếch lẻ tẻ vẫn còn xảy ra ở những nơi chưa nghiêm chỉnh chấp hành thông tư trên, lối đào “thành vại”, việc cắt ta-luy quá dốc v.v… cũng đã gây ra nhiều tai nạn đáng tiếc.
Hiện nay các công trường kiến thiết cơ bản phát triển nhiều, để những tai nạn như trên không xảy ra nữa, Bộ Lao động thấy chỉ cấm đào đất theo kiểu hàm ếch chưa đủ, mà cần phải quy định đầy đủ hơn về kỹ thuật an toàn trong việc đào đất để đảm bảo an toàn cho lao động. Bản quy tắc “an toàn lao động trong việc đào đất” ban hành theo thông tư này nhằm mục đích trên, nó không đi sâu vào chi tiết của kỹ thuật đào đất mà chỉ quy định những nguyên tắc cơ bản và tối thiểu mà tất cả các công trường thuộc tất cả các ngành đều phải thực hiện để đảm bảo an toàn lao động. Mỗi ngành, mỗi công trường, tùy theo tính chất công tác và điều kiện làm việc của mình sẽ đề ra những biện pháp cụ thể và thích hợp để áp dụng đúng đắn các nguyên tắc trên.
Bộ Lao động đề nghị các Bộ, Ủy ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh phổ biến rộng rãi bản quy tắc này và chỉ thị cho các công trường trực thuộc tổ chức cho cán bộ và công nhân học tập kỹ, để thấy được tính chất phức tạp của việc làm đất, không chủ quan coi thường, và phải thực hiện nghiêm chỉnh những điều đã quy định.
Riêng đối với công trường mới mở, nhất là các công trường có nhiều anh chị em mới ở nông thôn ra làm, hoặc có nhiều dân công, việc tổ chức cho anh chị em học tập bản quy tắc phải tiến hành trước khi đưa anh chị em ra hiện trường làm việc.
Các cơ quan Lao động địa phương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Công đoàn để kiểm tra, đôn đốc các công trường thực hiện đúng đắn văn bản này, kịp thời ngăn chặn những vụ vi phạm và báo cáo cho Bộ biết những khó khăn mắc mứu để nghiên cứu giải quyết.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG |
AN TOÀN LAO ĐỘNG TRONG VIỆC ĐÀO ĐẤT
Trong quá trình làm việc nếu có những tình hình hoặc yêu cầu về kỹ thuật khác cần phải giải quyết mà bản quy tắc này chưa đề cập tới thì phải do cán bộ phụ trách về kỹ thuật của công trường giải quyết.
Điều 6. – Tuyệt đối cấm đào đất theo kiểu hàm ếch.
II. KỸ THUẬT, AN TOÀN VỀ ĐÀO ĐẤT
a) Đào sâu quá 1m trong những loại đất mềm có thể đào bằng cuốc bàn.
b) Đào sâu quá 2m trong loại đất cứng mà phải dùng cuốc chim mới đào được.
c) Đào các chỗ thường xuyên có xe cộ qua lại hoặc ở những nơi mà xung quanh có máy chạy làm rung động.
d) Đào móng giáp móng của các công trình khác (Trong trường hợp này bộ phận thiết kế phải tính toán để chống đỡ chắc chắn móng của công trình cũ).
Khi đã đào được một khoảng sâu như đã quy định ở các điểm a và b mà muốn đào thêm nữa thì phải chống đỡ phên ván xong rồi mới được đào tiếp.
Đường đi lại để vận chuyển đất phải cách mép hồ ít nhất 0m60.
Điều 25. – Không được để vật nặng lên cây chống hoặc dùng cây chống làm thang lên xuống.
B. ĐÀO THEO LỐI ĐỂ THÀNH NGHIÊNG (TA LUY) (HÌNH 2)
| Loại đất | Sâu dưới 3 mét | Sâu trên 3 mét | ||
| Độ góc vách hố | Tỷ lệ chiều cao so với chiều rộng | Độ góc vách hố | Tỷ lệ chiều cao so với chiều rộng | |
| Đất rời rạc, cát, sỏi Đất cát pha sét Đất sét pha cát Đất sét | 39 độ 56 56 63 | 1/1, 25 1/0, 67 1/0, 67 1/0, 50 | 34 độ 45 53 56 | 1/1, 50 1/1 1/0, 75 1/0, 67 |
C. ĐÀO THEO HÌNH BẬC THANG (HÌNH 3)
Điều 29. – Cấm hút thuốc lào và thuốc lá khi làm dưới giếng.
Khi kéo dây phải dùng “tời” không được kéo bằng tay không. Đầu dâu ở trên, khi dây thả xuống tới đáy giếng, còn phải cuộn ít nhất 5 hoặc 6 vòng vào trục “tời”. Để trục “tời” không thể tự động quay ngược trở lại được, “tời” phải có chốt an toàn.
Công nhân đào giếng phải có mũ cứng đề phòng đất đá từ trên rơi xuống đầu.
Trong lúc công nhân làm việc dưới giếng phải có người canh gác ở miệng giếng để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra.
III. PHẠM VI ÁP DỤNG VÀ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH
Đối với những công trình nhỏ như đào móng, đào mương sâu không quá 1m thì có thể tùy theo tình hình thực tế chất đất của mỗi nơi mà nghiên cứu áp dụng không nhất thiết phải thi hành đầy đủ các điều khoản trong bản quy tắc này.
Những người do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố tình vi phạm các điều khoản quy định trong bản quy tắc để xảy ra tai nạn lao động sẽ bị thi hành kỷ luật hoặc truy tố trước tòa án theo luật pháp của Nhà nước.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG |
Thông tư 27-LĐ/TT năm 1961 về bản quy tắc an toàn lao động trong việc đào đất do Bộ Lao Động ban hành.
- Số hiệu: 27-LĐ/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 20/12/1961
- Nơi ban hành: Bộ Lao động
- Người ký: Nguyễn Đăng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 51
- Ngày hiệu lực: 04/01/1962
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
