Hệ thống pháp luật

NGÂN HÀNG QUỐC GIA-BỘ NÔNG LÂM
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 267-LB

Hà Nội, ngày 06 tháng 09 năm 1959

THÔNG TƯ

VỀ VIỆC THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH SỐ 054-TTG NGÀY 19-02-1959 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ VỀ NGUYÊN TẮC CẤP VỐN LƯU ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC XÍ NGHIỆP QUỐC DOANH CÔNG NGHIỆP, LÂM NGHIỆP, NÔNG NGHIỆP, GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ BƯU ĐIỆN

Quyết định số 054-TTg ngày 19-02-1959 của Thủ tướng Chính phủ đã ấn định nguyên tắc về định mức vốn, cấp vốn lưu động đối với các xí nghiệp quốc doanh công nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện; về việc Ngân hàng Quốc gia cho vay trong định mức vốn lưu động.

Quyết định nói trên nhằm hết sức tiết kiệm vốn cho Nhà nước, đồng thời giúp đỡ cho các xí nghiệp giải quyết những khó khăn về vốn trong quá trình thực hiện kế hoạch, góp phần củng cố thêm một bước chế độ hạch toán kinh tế, để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.

Thông tư này của Liên bộ Nông lâm – Ngân hàng quy định cụ thể những nguyên tắc và biện pháp chủ yếu hướng dẫn các nông trường, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp quốc doanh khác thuộc Bộ Nông lâm và các Chi nhánh Ngân hàng địa phương thi hành.

I. MẤY NGUYÊN TẮC CHUNG TRONG VIỆC CẤP VỐN LƯU ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC VÀ VIỆC CHO VAY TRONG ĐỊNH MỨC CỦA NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM

1. Đối với tất cả các nông trường quốc doanh, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp khác thuộc ngành Nông lâm, sau khi đã được xét duyệt vốn lưu động định mức, Nhà nước chỉ cấp tối đa 70%. Số còn lại 30%, Nhà nước sẽ chuyển giao cho Ngân hàng cho vay, coi như cho vay trong định mức tiêu chuẩn vốn lưu động.

2. Ngoài ra, nếu nông trường, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp khác cần có dự trữ trên định mức tiêu chuẩn vốn lưu động thì Ngân hàng quốc gia sẽ cho vay trên định mức theo thể lệ và biện pháp cho vay ngắn hạn của Ngân hàng.

Thi hành 2 nguyên tắc trên sẽ có mấy trường hợp sau:

a) Trường hợp đã được cấp đủ hoặc thiếu chút ít vốn lưu động định mức.

Trường hợp này các nông trường quốc doanh, các chi nhánh lâm khẩn, các xí nghiệp khác chỉ được giữ lại 70%, còn số thừa thì hoàn lại Bộ Tài chính để Bộ Tài chính chuyển cho Ngân hàng Quốc gia cho vay trong định mức. Đồng thời các nông trường, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp cũng ký giấy nhận vay của chi nhánh Ngân hàng địa phương 30% trong định mức để có vốn hoạt động. Việc hoàn vốn thừa trên 70% trong định mức và vay 30% trong định mức phải tiến hành một lúc để hợp lý hóa thủ tục kế toán của Ngân hàng.

b) Trường hợp chưa được cấp đủ vốn lưu động định mức.

Trong trường hợp này thì Bộ Nông Lâm cũng chỉ cấp thêm cho đủ 70% trong định mức, còn lại 30% trong định mức thì Bộ Tài chính hoặc Bộ Nông Lâm chuyển cho Ngân hàng, các nông trường, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp khác cũng ký giấy vay nợ Ngân hàng như trường hợp trên.

c) Trường hợp vốn lưu động tự có đã quá vốn lưu động định mức được duyệt cho năm 1959.

Trường hợp này các nông trường, chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp khác phải nộp số vốn thừa trên định mức cho Cục chủ quản hoặc Bộ Nông Lâm. Số vốn còn lại trong định mức được duyệt thì cũng nộp 30% trong định mức cho Bộ Tài chính để Bộ Tài chính chuyển cho Ngân hàng và vay 30% trong định mức của chi nhánh Ngân hàng địa phương như hai trường hợp trên.

3. Ngoài ra các nông trường, chi nhánh lâm khẩn, các xí nghiệp khác phải nộp đầy đủ và đúng kỳ hạn các khoản khấu hao, tiền bán tài sản cố định cho dự toán Nhà nước và các khoản lợi nhuận, vốn lưu động thừa cho Bộ Nông Lâm.

Các chi nhánh Ngân hàng địa phương phối hợp chặt chẽ với các nông trường quốc doanh, các xí nghiệp lâm khẩn và các xí nghiệp khác để đặt kế hoạch nộp các khoản này cho đầy đủ như đã quy định trong công văn số 214-NL/KHTV ngày 26-06-1959 của Bộ Nông Lâm (điều 4).

4. Trong khi tiến hành nộp vốn trong định mức và các khoản khác đã quy định trong các điểm trên, nếu các nông trường, chi nhánh lâm khẩn, các xí nghiệp khác không đủ tiền mặt để nộp, vì tiền đã nằm đọng trong sản phẩm, dự trữ nguyên vật liệu, khách nợ chưa thanh toán v.v... thì sẽ đề nghị vay của các chi nhánh Ngân hàng số tiền cần nộp.

5. Ngân hàng cho vay các dự trữ nguyên vật liệu trong định mức trong phạm vi kế hoạch hay ngoài kế hoạch (nhu cầu tạm thời) theo đúng thể lệ và biện pháp cho vay ngắn hạn của Ngân hàng quốc gia đã ban hành.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN CHÚ Ý KHI TIẾN HÀNH

1. Các nông trường quốc doanh, các chi nhánh lâm khẩn các xí nghiệp quốc doanh khác, các chi nhánh Ngân hàng địa phương cần nghiên cứu kỹ thông tư này, đặt kế hoạch thi hành một cách tích cực và thận trọng dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng ủy và chính quyền địa phương; cố gắng giải quyết những mắc mứu về tài vụ từ trước, có biện pháp ngăn ngừa những hiện tượng ấy tái diễn gây khó khăn cho việc sản xuất và kinh doanh.

2. Đảng ủy và quản đốc xí nghiệp cần có kế hoạch giáo dục cho toàn thể cán bộ công nhân viên quán triệt chính sách tiết kiệm vốn của Nhà nước và nhiệm vụ giám đốc bằng đồng tiền của Ngân hàng quốc gia trong công tác cho vay ngắn hạn, thanh toán không dùng tiền mặt, kiểm soát việc chi tiêu quỹ tiền lương, quản lý quỹ tiền mặt.

3. Giữa Ngân hàng và các nông trường quốc doanh, các chi nhánh lâm khẩn và các xí nghiệp khác cần có sự phối hợp chặt chẽ, phát huy tinh thần vị lợi ích chung, tìm mọi biện pháp khắc phục khó khăn, thi hành nghiêm chỉnh thông tư này và hoàn thành công việc cho vay, nộp vốn và thanh toán các khoản nợ dây dưa trong tháng 09 năm 1959.

K.T. TỔNG GIÁM ĐỐC
NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM
PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC





Vũ Duy Hiệu

K.T. BỘ TRƯỞNG
BỘ NÔNG LÂM
THỨ TRƯỞNG





Lê Duy Trinh

HIỆU LỰC VĂN BẢN

Thông tư 267-LB năm 1959 thi hành Quyết định 054-TTG về nguyên tắc cấp vốn lưu động đối với các xí nghiệp quốc doanh công nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và bưu điện do Bộ Nông lâm- Ngân Hàng Quốc Gia ban hành

  • Số hiệu: 267-LB
  • Loại văn bản: Thông tư
  • Ngày ban hành: 06/09/1959
  • Nơi ban hành: Ngân hàng quốc gia, Bộ Nông lâm
  • Người ký: Lê Duy Trinh, Vũ Duy Hiệu
  • Ngày công báo: 30/09/1959
  • Số công báo: Số 37
  • Ngày hiệu lực: 21/09/1959
  • Tình trạng hiệu lực: Chưa xác định
Tải văn bản