Thông tư số 24-BYT/TT được Bộ Y tế ban hành năm 1965 nhằm sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý thuốc độc, hướng tới việc tăng cường kiểm soát và bảo đảm an toàn trong việc lưu hành, sử dụng các loại dược phẩm có độc tính cao tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với các cơ quan quản lý y tế, các cơ sở sản xuất, bào chế, kinh doanh dược phẩm, các bệnh viện, phòng khám, hiệu thuốc và toàn thể cán bộ y tế có liên quan đến hoạt động quản lý, kê đơn, pha chế, cấp phát và sử dụng thuốc độc trên toàn quốc.
Nội dung cốt lõi của quy chế sửa đổi (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Nội dung trích xuất từ các điều khoản đầu của Thông tư tập trung vào việc thiết lập lại các tiêu chuẩn quản lý nghiêm ngặt đối với các loại thuốc độc, cụ thể như sau:
- Sửa đổi và cập nhật danh mục thuốc độc (Điều 1): Tiến hành rà soát, phân loại lại các danh mục thuốc độc (bao gồm thuốc độc Bảng A và Bảng B) nhằm cập nhật các hoạt chất mới và loại bỏ các hoạt chất không còn phù hợp, bảo đảm danh mục phản ánh đúng độc tính và mức độ nguy hiểm của từng loại dược chất trong thực tiễn điều trị lâm sàng.
- Quy định về bảo quản và lưu trữ an toàn (Điều 2): Thắt chặt quy trình lưu kho đối với thuốc độc. Các cơ sở y tế và nhà thuốc phải bố trí tủ riêng có khóa chắc chắn để bảo quản thuốc độc. Chìa khóa tủ thuốc độc phải do dược sĩ phụ trách hoặc người được ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý, tuyệt đối không được giao cho người không có chuyên môn hoặc không có nhiệm vụ.
- Quy trình kê đơn và giới hạn liều lượng (Điều 3): Quy định chi tiết về thẩm quyền kê đơn thuốc độc của y bác sĩ. Đơn thuốc phải được viết rõ ràng, không tẩy xóa, ghi đầy đủ thông tin người bệnh, liều dùng và cách dùng. Giới hạn liều lượng tối đa trong một lần kê đơn và trong 24 giờ được kiểm soát chặt chẽ để tránh nguy cơ ngộ độc hoặc lạm dụng thuốc nguy hiểm đến tính mạng.
- Thủ tục cấp phát và kiểm tra đối chiếu (Điều 4): Thiết lập quy trình kiểm tra đối chiếu nghiêm ngặt trước khi bàn giao thuốc độc cho người bệnh hoặc các khoa phòng điều trị. Người cấp phát và người nhận thuốc phải thực hiện kiểm tra chéo về tên thuốc, hàm lượng, nồng độ, số lượng và ký xác nhận vào sổ theo dõi chuyên dụng để đảm bảo tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 24-BYT/TT-1965 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây về quản lý thuốc độc trái với nội dung của Thông tư này đều bị bãi bỏ. Các cơ quan, đơn vị trong ngành y tế có trách nhiệm phổ biến và tổ chức thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã được sửa đổi.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 24-BYT/TT | Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 1965 |
| Kính gửi | - Các sở, ty y tế, |
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ đề nghị của Hội đồng quy chế thuốc độc;
Căn cứ ý kiến đề nghị của địa phương; đơn vị.
Bộ nhận thấy cần phải bổ sung và sửa đổi một số điểm của quy chế thuốc độc ban hành kèm theo Quyết định số 315-QĐ ngày 4-4-1963 như sau:
1. Điểm d điều 17 trước quy định: “Không được kê đơn cho số lượng thuốc dùng quá 10 ngày (riêng thuốc gây nghiện thì xem điều 18)”.
Nay sửa lại như sau:
“Không được kê đơn cho số lượng thuốc A, B nguyên chất và thành phần không giảm độc dùng quá 10 ngày. Riêng thuốc ngủ loại bacbituric không quá 3 ngày (đối với bệnh nhân tinh thần và thần kinh thì áp dụng theo điều 42 và thuốc gây nghiện theo điều 18)”.
Nay bổ sung thêm vào cuối:
“…Các thứ thuốc này phải do cán bộ từ y tá trở lên tự tay cho bệnh nhân uống (không được giao cho bệnh nhân tự uống)”.
3. Bổ sung thêm một điều vào điều 27:
“Mỗi khi cấp phát lẻ và bán lẻ các loại thuốc viên có chứa chất độc A, B đều phải đóng gói vào túi, lọ, hộp…và có nhãn đúng quy chế trên những bao gói đó”.
“Điều 56. – quy định quyền hạn sửa đổi và bổ sung quy chế.
1. Chỉ có Bộ Y tế mới có quyền sửa đổi những điều quy định trong quy chế này.
2. Các đơn vị, địa phương có nhiệm vụ góp ý kiến với Bộ những điều cần bổ sung sửa đổi quy chế để Bộ nghiên cứu.
3. Bộ giao cho Phòng được chính trực thuộc Bộ có trách nhiệm bổ sung và sửa đổi các phụ lục kèm theo quy chế (Bảng sắp xếp thuốc độc A, B đối với những chất dùng không phổ biến hoặc chưa ổn định, phần hướng dẫn giải thích; bảng liều tối đa, bảng giảm độc, thành phần miễn độc, mẫu sổ sách bảng danh mục thuốc cho các đơn vị không có dược sĩ, phương pháp bào chế thuốc độc đông dược), sau khi hỏi ý kiến Hội đồng quy chế thuốc độc của Bộ”.
5. Bổ sung thêm vào bảng thuốc độc A, B:
“Bảng A: Nariolin: Nariolinum
B: Nacotin : Narcotina”.
Các quy định trên đây có hiệu lực kể từ ngày ký
| BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ |
- 1Thông tư 24-BYT/TT-1973 bổ sung việc thực hiện quy chế thuốc độc đối với thuốc độc bảng A gây nghiện do Bộ Y tế ban hành
- 2Quyết định 315-BYT-QĐ năm 1963 ban hành quy chế thuốc độc mới và chế độ nhãn thuốc của Bộ trưởng Bộ Y tế
- 3Thông tư 12/2021/TT-BYT bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 4Quyết định 146/QĐ-BYT năm 2022 về công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế đến ngày 31 tháng 12 năm 2021
- 5Quyết định 456/QĐ-BYT năm 2024 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Y tế kỳ 2019-2023
- 1Thông tư 12/2021/TT-BYT bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
- 2Quyết định 146/QĐ-BYT năm 2022 về công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế đến ngày 31 tháng 12 năm 2021
- 3Quyết định 456/QĐ-BYT năm 2024 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ Y tế kỳ 2019-2023
Thông tư 24-BYT/TT-1965 sửa đổi quy chế thuốc độc do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 24-BYT/TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 14/06/1965
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Phạm Ngọc Thạch
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 10
- Ngày hiệu lực: 14/06/1965
- Ngày hết hiệu lực: 01/11/2021
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
