Thông tư 22-LN được ban hành năm 1963 bởi Tổng cục Lâm nghiệp, quy định và hướng dẫn chi tiết về việc cấp giấy phép khai thác lâm sản. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng ngành lâm nghiệp, nhằm thiết lập trật tự trong việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên rừng một cách bền vững và có kế hoạch.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng đối với toàn bộ hoạt động khai thác, tận thu lâm sản (bao gồm gỗ, củi và các loại lâm sản ngoài gỗ) trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là tại các khu vực rừng tự nhiên và rừng trồng thuộc quyền quản lý của Nhà nước hoặc tập thể.
- Đối tượng áp dụng: Các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc doanh, hợp tác xã, tổ chức tập thể và mọi cá nhân có nhu cầu khai thác lâm sản phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh, xây dựng hoặc tiêu dùng cá nhân.
Nội dung cốt lõi của quy định cấp giấy phép khai thác (Điều 1 - Điều 4)
1. Nguyên tắc chung về quản lý khai thác lâm sản
- Mọi hoạt động khai thác lâm sản đều phải được sự cho phép của cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp thông qua việc cấp giấy phép hợp lệ. Nghiêm cấm mọi hành vi tự ý chặt phá, khai thác rừng khi chưa được cấp phép.
- Việc khai thác phải đi đôi với bảo vệ và tái sinh rừng, bảo đảm không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái.
2. Thẩm quyền cấp giấy phép khai thác lâm sản
- Quy định rõ thẩm quyền của các cấp quản lý lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương (như Ty Lâm nghiệp, các Ban quản lý lâm nghiệp hoặc các cơ quan được ủy quyền) trong việc xem xét, phê duyệt và cấp giấy phép khai thác dựa trên quy mô, khối lượng và loại lâm sản cần khai thác.
- Sự phân cấp quản lý nhằm đảm bảo tính giám sát chặt chẽ tại thực địa, tránh tình trạng chồng chéo hoặc buông lỏng quản lý ở cấp cơ sở.
3. Thủ tục và hồ sơ đề nghị cấp giấy phép
- Các đơn vị, cá nhân có nhu cầu khai thác phải lập hồ sơ đề nghị cấp phép gửi đến cơ quan lâm nghiệp có thẩm quyền.
- Hồ sơ phải nêu rõ mục đích khai thác, địa điểm (khu vực rừng, lô, khoảnh), diện tích, trữ lượng, chủng loại lâm sản dự kiến khai thác, thời gian thực hiện và các biện pháp an toàn, tái sinh rừng sau khai thác.
- Cơ quan lâm nghiệp có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, khảo sát thực địa để xác minh tính chính xác của hồ sơ trước khi quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy phép.
4. Trách nhiệm và nghĩa vụ của đối tượng được cấp phép
- Chỉ được phép tiến hành khai thác đúng phạm vi ranh giới, đúng chủng loại và khối lượng lâm sản đã được ghi nhận cụ thể trong giấy phép.
- Có nghĩa vụ nộp đầy đủ các khoản thuế, phí lâm sản và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của Nhà nước.
- Phải thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng chống cháy rừng, bảo vệ nguồn nước và dọn dẹp vệ sinh rừng sau khi hoàn thành quá trình khai thác để tạo điều kiện cho rừng tái sinh tự nhiên hoặc trồng mới.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 22-LN năm 1963 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc ban hành Thông tư này đã góp phần quan trọng vào việc đưa hoạt động khai thác lâm sản đi vào nề nếp, hạn chế tình trạng khai thác tự do, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng quý giá của quốc gia.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP | VIỆT |
| Số: 22-LN | Hà Nội, ngày 06 tháng 05 năm 1963 |
TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC LÂM NGHIỆP
Kề từ khi thi hành thông tư liên Bộ Nông Lâm – Laođộng– Nội thương số 06-TT-LB ngày 12-12-1959, những tổ chức nhân lực miền xuôi lên các tỉnh miền núi tự khai thác lâm sản đã đóng góp nhiều trong việc khai thác và cung cấp lâm sản. Nhưng bên cạnh tác dụng tốt ấy, cũng có một số trường hợp vi phạm luật lệ hoặc khó giải quyết vì một sốỦy ban hành chính các cấp, nhất là cấp xã và một số cơ quan chuyên trách chưa quán triệt các thể lệ, thủ tục đã quy định.
Do đấy, Tổng cục Lâm nghiệp thấy cần phải tóm tắt một số quy định cần thiết liên quan để phát huy ảnh hưởng tốt của việc tự tổ chức khai thác lâm sản này.
Tóm lại, để phát huy tác dụng tốt các tổ chức tự khai thác lâm sản, đồng thời ngăn ngừa việc vi phạm luật lệ, lợi dụng buôn bán, việc xin phép tự khai thác cần được khuyến khích, nhưng phải đảm bảo là tổ chức có lãnh đạo chặt chẽ và nhu cầu lâm sản thuộc chỉ tiêu đã được Nhà nước duyệt. Hiện nay nhu cầu ngày càng lớn do sự mở rộng phạm vi kinh doanh và kiến thiết cơ bản của hợp tác xã nông nghiệp, thủ công nghiệp, nên muốn tránh khỏi bị động, vấp váp gây tổn phí thì giờ đi lại cho nhân dân, đề nghịỦy ban hành chính lưu ý đến mọi nhu cầu về lâm sản, dù là nhu cầu thứ yếu như nứa khô làm củi nấu mật… khi xin Nhà nước phân phối chỉ tiêu tiêu thụ cho tỉnh nhà. Mặt khác đề nghịỦy ban phổ biến rộng rãi tinh thần công văn này đến cấp xã, đến tận các hợp tác xã để việc thi hành được thống nhất.
| K.T. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Thông tư 22-LN năm 1963 về việc cấp giấy phép khai thác lâm sản do Tổng cục Lâm nghiệp ban hành
- Số hiệu: 22-LN
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 06/05/1963
- Nơi ban hành: Tổng cục Lâm nghiệp
- Người ký: Nguyễn Mạnh Hồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 21
- Ngày hiệu lực: 21/06/1963
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
