Thông tư 167-TCCP được Ban Tổ chức của Chính phủ ban hành năm 1978 nhằm hướng dẫn tiêu chuẩn phân loại huyện trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng làm cơ sở để xác định tổ chức bộ máy, biên chế và chế độ chính sách đối với cán bộ cấp huyện phù hợp với quy mô và đặc điểm của từng địa phương trong giai đoạn cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế sau thống nhất.
Đối tượng áp dụng của Thông tư bao gồm các huyện trên toàn quốc, không phân biệt vùng miền, từ đồng bằng, trung du đến miền núi, hải đảo. Cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện là Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan tổ chức cán bộ các cấp.
Mục đích của việc phân loại huyện- Làm căn cứ khoa học và thực tiễn để thiết lập bộ máy quản lý hành chính nhà nước cấp huyện tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Xác định định mức biên chế hành chính, sự nghiệp và các chế độ phụ cấp, đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp huyện phù hợp với quy mô quản lý.
- Tạo điều kiện để các huyện chủ động phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng phù hợp với đặc thù địa bàn.
- Tiêu chuẩn về dân số: Quy mô dân số là một trong những tiêu chí hàng đầu, xác định khối lượng công việc quản lý hành chính và dịch vụ công trên địa bàn huyện.
- Tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên: Diện tích đất đai, địa hình (đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo) ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ dân cư và độ phức tạp trong công tác quản lý hành chính, giao thông, liên lạc.
- Đặc điểm kinh tế và cơ cấu ngành nghề: Xác định dựa trên tính chất phát triển kinh tế của huyện như huyện thuần nông, huyện lâm nghiệp, huyện ngư nghiệp, hoặc huyện có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển.
- Yêu cầu về an ninh, quốc phòng: Các huyện nằm ở vị trí trọng yếu, biên giới, hải đảo hoặc vùng căn cứ cách mạng cũ được xem xét đặc thù để phân loại phù hợp nhằm bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
- Các huyện được phân chia thành các loại khác nhau (thông thường gồm loại I, loại II và loại III) dựa trên tổng số điểm đạt được từ các tiêu chí về dân số, diện tích và đặc điểm kinh tế - xã hội.
- Mỗi loại huyện sẽ tương ứng với một khung biên chế và cơ cấu tổ chức các phòng, ban chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân huyện cụ thể, tránh tình trạng cào bằng giữa các địa phương có quy mô khác nhau.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, khảo sát, lập hồ sơ đề xuất phân loại các huyện trực thuộc gửi về Ban Tổ chức của Chính phủ.
- Ban Tổ chức của Chính phủ chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan thẩm định và ra quyết định công nhận phân loại đối với từng huyện cụ thể nhằm bảo đảm tính thống nhất trên phạm vi cả nước.
Thông tư 167-TCCP-1978 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các quy định tại Thông tư này là căn cứ pháp lý quan trọng xuyên suốt một thời kỳ dài trong công tác tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương, đặt nền móng cho các quy định về phân loại đơn vị hành chính cấp huyện trong các giai đoạn phát triển sau này của đất nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BAN TỔ CHỨC CỦA CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 167-TCCP | Hà Nội, ngày 25 tháng 07 năm 1978 |
Thi hành Quyết định số 139-CP ngày 14-6-1978 của Hội đồng Chính phủ ban hành bản quy định của Hội đồng Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác và lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân huyện, và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện; Ban tổ chức của Chính phủ hướng dẫn tiêu chuẩn phân loại huyện như sau:
Đặc điểm của các huyện miền núi, sát biên giới là đất rộng, người không đông, phương tiện và điều kiện đi lại không thuận tiện, nên việc lãnh đạo của huyện uỷ, Ủy ban nhân dân huyện, cũng như việc đi lại của cán bộ, nhân dân trong huyện có khó khăn, vất vả hơn so với các huyện ở trung du, đồng bằng.
Vì vậy, sau khi vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác và lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân huyện đã được xác định, phải tiến hành phân loại huyện.
Mục đích của việc phân loại huyện là nhằm phục vụ tốt cho việc xây dựng huyện thành những huyện nông – công nghiệp, nông – lâm – công nghiệp hoặc nông – ngư – công nghiệp, để tổ chức lại sản xuất, tổ chức đời sống của nhân dân trên địa bàn huyện. Khi tiến hành phân loại huyện, yêu cầu các địa phương chú ý phân tích kỹ tình hình đặc điểm của các huyện thuộc các vùng khác nhau bảo đảm cho việc phân loại huyện một cách tốt nhất, phù hợp nhất với đặc điểm của từng vùng.
- Huyện loại I: từ 140 đến 160 người,
- Huyện loại II: từ 120 đến 130 người,
- Huyện loại III: từ 100 đến 110 người,
Trên cơ sở quy định của Hội đồng Chính phủ, Ban tổ chức của Chính phủ hướng dẫn cụ thể như sau:
- Huyện loại một, bao gồm các huyện đồng bằng và trung du có diện tích đất canh tác nông nghiệp trên 12 000 hécta, có số dân trên 150 000 người, có giá trị tổng sản lượng nông – công nghiệp hoặc nông – ngư – công nghiệp trên 30 triệu đồng. Các huyện trung du và miền núi có diện tích đất canh tác nông nghiệp từ 8 000 đến 10 000 hécta và diện tích đất lâm nghiệp trên 15 000 hécta, có số dân trên 70 000 người, có giá trị tổng sản lượng nông – lâm – công nghiệp trên 30 triệu đồng.
- Huyện loại hai, bao gồm các huyện đồng bằng và trung du có diện tích đất canh tác nông nghiệp từ 8 000 đến 12 000 hécta, có số dân từ 100 000 đến 150 000 người, có giá trị tổng sản lượng nông – công nghiệp hoặc nông - ngư – công nghiệp từ 20 triệu đến 30 triệu đồng. Các huyện trung du và miền núi có diện tích đất canh tác nông nghiệp từ 6 000 đến dưới 10 000 hécta và diện tích đất lâm nghiệp từ 10 000 đến 15 000 hécta, có số dân từ 50 000 đến 70 000 người, có giá trị tổng sản lượng nông – lâm – công nghiệp từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.
- Huyện loại ba, bao gồm các huyện có diện tích đất canh tác nông nghiệp, diện tích đất lâm nghiệp; có số dân và có giá trị tổng sản lượng dưới các mức quy định của huyện loại một, huyện loại hai trên đây.
Những điểm cần lưu ý khi tiến hành phân loại huyện:
- Trong 3 tiêu chuẩn để làm căn cứ cho việc phân loại huyện thì diện tích đất đai và mật độ dân số là tiêu chuẩn chủ yếu.
- Khi tính giá trị tổng sản lượng, thì không tính giá trị tổng sản lượng của các đơn vị sản xuất – kinh doanh của tỉnh, thành phố hoặc của trung ương, đóng trên địa bàn huyện.
Đề nghị các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có kế hoạch cụ thể để hướng dẫn cho các Ủy ban nhân dân thực hiện việc phân loại huyện và báo cáo kết quả lên Phủ thủ tướng (Ban tổ chức của Chính phủ) vào quý IV năm 1978.
| KT. TRƯỞNG BAN BAN TỔ CHỨC CỦA CHÍNH PHỦ |
- 1Thông tư 109-BT-1978 Hướng dẫn thực hiện bản quy định của Hội đồng Chính phủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân huyện do Phủ thủ tướng ban hành
- 2Quyết định 139-CP năm 1978 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, quan hệ công tác và lề lối làm việc của Ủy ban nhân dân huyện và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện do Hội đồng Chính Phủ ban hành.
Thông tư 167-TCCP-1978 hướng dẫn tiêu chuẩn phân loại huyện do Ban Tổ chức của Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 167-TCCP
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 25/07/1978
- Nơi ban hành: Ban Tổ chức của Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Diêu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 5
- Ngày hiệu lực: 09/08/1978
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
