Năm 1964, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 16-BYT-TT hướng dẫn thành lập các trạm da liễu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên khoa da liễu, phòng chống bệnh phong và các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại các địa phương trên cả nước trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Ty Y tế, Sở Y tế cùng các cơ quan, đơn vị y tế trong việc tổ chức, thành lập, bố trí nhân sự và quản lý hoạt động của các trạm da liễu tuyến tỉnh.
Mục tiêu thành lập các trạm da liễu địa phương
- Xây dựng hệ thống phòng bệnh và chữa bệnh chuyên khoa da liễu đồng bộ từ trung ương đến địa phương nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân.
- Tập trung nguồn lực chuyên môn để giải quyết các bệnh lý da liễu phổ biến, đặc biệt là công tác phát hiện, quản lý, cách ly điều trị nhân đạo đối với bệnh nhân phong (cùi) và kiểm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về vệ sinh phòng bệnh, từng bước xóa bỏ định kiến, kỳ thị của xã hội đối với người mắc bệnh da liễu và bệnh phong.
Chức năng và nhiệm vụ cốt lõi của Trạm da liễu
- Công tác khám và điều trị: Tổ chức khám bệnh, phát hiện sớm, lập hồ sơ quản lý, điều trị ngoại trú và theo dõi định kỳ cho bệnh nhân mắc các bệnh về da, bệnh phong và bệnh lây truyền qua đường tình dục trên địa bàn quản lý.
- Chỉ đạo tuyến và hỗ trợ chuyên môn: Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế tuyến huyện, tuyến xã; giám sát và hỗ trợ kỹ thuật cho các cơ sở y tế cơ sở trong việc phát hiện và xử trí ban đầu các bệnh da liễu thông thường.
- Tuyên truyền và giáo dục sức khỏe: Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và trường học, xí nghiệp tổ chức các chiến dịch tuyên truyền về vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường và các biện pháp phòng ngừa bệnh da liễu tại cộng đồng.
- Quản lý dịch tễ: Điều tra, thống kê, lập bản đồ dịch tễ về tình hình mắc bệnh da liễu và bệnh phong tại địa phương để tham mưu cho Ty Y tế xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh hiệu quả theo từng giai đoạn.
Cơ cấu tổ chức, nhân sự và cơ chế phối hợp
- Hệ thống quản lý: Trạm da liễu chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp về mặt hành chính, tổ chức và kinh phí của Ty Y tế (Sở Y tế) địa phương, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn sâu sát về chuyên môn kỹ thuật của Viện Da liễu Trung ương.
- Đội ngũ nhân sự: Cơ cấu nhân sự của trạm bao gồm Trưởng trạm (là bác sĩ hoặc y sĩ có chuyên môn sâu về da liễu) và các y sĩ, y tá, kỹ thuật viên xét nghiệm được đào tạo chuyên ngành để vận hành phòng khám và phòng xét nghiệm cơ bản.
- Phối hợp liên ngành: Trạm da liễu có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các bệnh viện đa khoa tỉnh, các khu điều trị phong (trại phong) và các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương để tối ưu hóa hiệu quả điều trị, hỗ trợ phục hồi chức năng và tái hòa nhập cộng đồng cho người bệnh.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 16-BYT-TT-1964 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế về nhân lực, ngân sách và mô hình bệnh tật tại địa bàn để chủ động xây dựng đề án thành lập, nhanh chóng đưa trạm da liễu đi vào hoạt động ổn định theo đúng hướng dẫn của Bộ Y tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 16-BYT-TT | Hà Nội, ngày 01 tháng 06 năm 1964 |
HƯỚNG DẪN VIỆC THÀNH LẬP CÁC TRẠM DA LIỄU Ở CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG
| Kính gửi: | - Ủy ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương |
Thực hiện thông tư liên Bộ Y tế - Nội vụ số 04-LB-TT ngày 24-02-1964 hướng dẫn cải tiến tổ chức cơ quan y tế địa phương, thông tư này hướng dẫn về việc thành lập các trạm da liễu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, một số điểm như sau:
Trạm da liễu có nhiệm vụ:
1. Giúp việc các Sở, Ty Y tế lập các kế hoạch phòng và chống bệnh ngoài da và hoa liễu, trọng tâm là bệnh phong và tổ chức thực hiện kế hoạch đó: hướng dẫn, kiểm tra và theo dõi việc thực hiện, sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm cho việc chỉ đạo phong trào phòng và chống bệnh ngoài da và hoa liễu, trọng tâm là bệnh phong.
2. Xây dựng và củng cố tổ chức màng lưới phòng và chống bệnh ngoài da và hoa liễu, trọng tâm là bệnh phong đồng thời hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho tuyến dưới và các cơ sở y tế khác trong phạm vi ở mỗi địa phương.
3. Tổ chức điều tra cơ bản tình hình bệnh tật, phân loại, đăng ký, thống kê tỷ lệ, phát hiện nguyên nhân lan truyền bệnh ngoài da và hoa liễu trọng tâm là bệnh phong đồng thời có kế hoạch quản lý bệnh nhân phong đã khỏi được xuất trại.
4. Tổ chức khám bệnh, điều trị ngoại trú bệnh nhân phong thể lành tính và một số bệnh khác chú ý bệnh giang mai, bệnh ngoài da do nghề nghiệp gây ra và phụ trách khám và chữa bệnh cho một số bệnh nhân về da liễu nằm điều trị nội trú trong các bệnh viện.
5. Tuyên truyền giáo dục những kiến thức thông thường, quan niệm mới về bệnh phong và cách đề phòng bệnh phong, bệnh ngoài da và hoa liễu và vận động công nhân, cán bộ và nhân dân tham gia phong trào và chống các bệnh ấy.
6. Có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ chuyên khoa về da liễu.
7. Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ tiến hành công tác nghiên cứu khoa học về các bệnh ngoài da và hoa liễu, trọng tâm là bệnh phong.
A. Tổ chức
- Trạm da liễu là một đơn vị tổ chức trực thuộc các Sở, Ty Y tế,Chính phủ chịu sự quản lý trực tiếp về mọi mặt của các Sở, Ty Y tế, đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ của khoa da liễu bệnh viện Bạch Mai trung ương. Riêng hai khu Việt Bắc, Tây Bắc không thành lập trạm da liễu.
- Tổ chức trạm da liễu gồm các bộ phận sau đây:
1. Bộ phận lưu động phụ trách các mặt công tác: hướng dẫn, xây dựng, củng cố tổ chức màng lưới phòng và chống bệnh da liễu, điều tra phát hiện, quản lý bệnh nhân phong, kế hoạch đào tạo cán bộ về chuyên khoa da liễu và tuyên truyền vận động nhân dân tham gia được tốt.
2. Bộ phận khám bệnh phụ trách các mặt công tác: tổ chức khám bệnh, điều trị ngoại trú và phụ trách khám bệnh và chữa bệnh cho số bệnh nhân da liễu nằm điều trị nội trú trong các bệnh viện đồng thời xét nghiệm vi trùng phong, nấm và huyết thanh.
Và có một, hai cán bộ làm công tác kế hoạch, thống kê và tổng hợp tình hình hoạt động của trạm.
B. Biên chế
- Trạm da liễu do một trạm trưởng phụ trách và một trạm phó giúp việc. Trạm trưởng do Giám đốc hoặc Phó giám đốc Sở, Trưởng hoặc Phó Ty Y tế phụ trách.
- Về biên chế căn cứ vào khối lượng công tác, dân số, địa dư và các điều kiện cần thiết khác ở mỗi địa phương mà quy định cho phù hợp với công tác, nhằm bảo đảm mọi hoạt động của trạm. Bước đầu bố trí tối thiểu như sau: đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc loại lớn thì bố trí hai y, bác sĩ, năm y tá, một xét nghiệm viên, một hộ lý, (các Sở, Ty Y tế căn cứ vào chỉ tiêu biên chế chung phân bổ hàng năm bố trí cho đủ để hoạt động).
Số biên chế cán bộ, nhân viên của trạm da liễu lấy ở các nguồn sau đây:
- Số cán bộ hiện đang theo dõi công tác da liễu ở Văn phòng các Sở, Ty Y tế.
- Một số y bác sĩ hiện đang làm công tác điều trị về da liễu ở các bệnh viện.
Trường hợp còn thiếu thì bổ sung dần cho đủ để hoạt động.
Biên chế phục vụ cho số bệnh nhân da liễu nằm điều trị nội trú trong các bệnh viện do bệnh viện dự kiến và quản lý (số biên chế y tá, hộ lý thuộc vào biên chế của bệnh viện, còn y bác sĩ thuộc biên chế của trạm).
III. CƠ SỞ, TRANG BỊ, KINH PHÍ VÀ CON DẤU CỦA TRẠM
- Nhà cửa, trang bị chuyên môn và các dụng cụ thông thường khác dựa vào cơ sở sẵn có mà hoạt động, trường hợp còn thiếu các Sở, Ty Y tế nghiên cứu đề xuất cụ thể cho sát với tình hình ở mỗi địa phương, do Ủy ban hành chính địa phương cấp. Riêng số thuốc điều trị cho hai bệnh phong và giang mai là hai bệnh xã hội thì hiện nay do Bộ Y tế cấp phát để chữa cho hai bệnh này.
- Về kinh phí cho trạm da liễu hoạt động hàng năm dự trù và ngân sách địa phương.
- Trạm da liễu được sử dụng con dấu riêng để giao dịch. Mẫu dấu do một văn bản khác quy định sau.
IV. QUAN HỆ CÔNG TÁC VÀ LỀ LỐI LÀM VIỆC
- Căn cứ vào chủ trương, kế hoạch của Bộ Y tế và các Sở, Ty Y tế, trạm da liễu có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chương trình công tác cho sát với tình hình ở mỗi địa phương, các kế hoạch đó phải được các Sở, Ty Y tế thông qua và ghi vào chỉ tiêu kế hoạch của Ủy ban hành chính địa phương.
- Các Sở, Ty Y tế căn cứ vào kế hoạch đó, trực tiếp chỉ đạo trạm da liễu thực hiện và có kế hoạch kiểm tra, đôn đốc và theo dõi việc thực hiện.
- Các trạm da liễu có nhiệm vụ hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho tuyến dưới và các cơ sở y tế khác trong phạm vi địa phương, đồng thời có kế hoạch cho các cơ sở này củng cố tổ chức màng lưới, quản lý bệnh nhân phong được tốt ở mỗi địa phương.
- Các trạm da liễu cần có chương trình công tác cụ thể để phối hợp chặt chẽ với các trạm chuyên khoa khác để làm tốt công tác chuyên khoa da liễu.
- Các trạm da liễu và các bệnh viện phải phối hợp chặt chẽ với nhau trong công tác điều trị nội, ngoại trú cho số bệnh nhân da liễu, nhằm hoàn thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch của Bộ và các Sở, Ty Y tế.
- Các trạm da liễu cần quan hệ chặt chẽ với các cơ quan có liên quan để có biện pháp giúp đỡ phương tiện sinh sống cho các bệnh nhân phong đã khỏi được xuất trại về địa phương làm ăn được tốt.
- Các trạm da liễu có trách nhiệm phản ảnh, báo cáo tình hình hoạt động của mình (thông qua các Sở, Ty Y tế) gửi cho khoa da liễu bệnh viện Bạch Mai được kịp thời và chính xác.
- Các trạm da liễu và các khu điều dưỡng, điều trị về bệnh phong như: Quỳnh Lập (Nghệ An) Văn Môn (Thái Bình), Quả Cảm (Hà Bắc), Phú Bình (Thái Nguyên), Sông Mã (Sơn La) có trách nhiệm quan hệ chặt chẽ với nhau trong công tác với tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa để làm tốt công tác phòng và chống bệnh phong và các bệnh da liễu khác.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Bộ Y tế đề nghị Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nghiên cứu và thực hiện thông tư này, để các trạm da liễu hoạt động càng sớm càng tốt.
Bộ Y tế ủy nhiệm cho Khoa Da liễu bệnh viện Bạch Mai hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ.
Trong quá trình thực hiện gặp khó khăn, trở ngại, đề nghị phản ảnh cho Bộ Y tế biết để nghiên cứu bổ sung hoặc sửa đổi cho thích hợp.
| K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ |
Thông tư 16-BYT-TT-1964 hướng dẫn thành lập các trạm da liễu ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 16-BYT-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 01/06/1964
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Đinh Thị Cần
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 27
- Ngày hiệu lực: 01/06/1964
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
