Thông tư 15/1999/TT-BTC được Bộ Tài chính ban hành ngày 05 tháng 02 năm 1999 hướng dẫn thực hiện việc bãi bỏ thuế sát sinh trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm cụ thể hóa chủ trương cải cách hệ thống thuế, giảm bớt gánh nặng chi phí cho người dân và thúc đẩy hoạt động chăn nuôi, lưu thông gia súc phát triển lành mạnh.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư này áp dụng đối với tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động giết mổ gia súc, gia cầm trên lãnh thổ Việt Nam, các cơ quan thuế các cấp, cơ quan thú y, cùng các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương có liên quan đến việc quản lý hoạt động giết mổ và lưu thông sản phẩm động vật.
Chính sách bãi bỏ thuế sát sinh
- Chính thức bãi bỏ việc thu thuế sát sinh đối với hoạt động giết mổ gia súc (bao gồm trâu, bò, lợn và các loại gia súc khác) trên phạm vi toàn quốc kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 theo đúng tinh thần Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Các tổ chức, cá nhân thực hiện việc giết mổ gia súc không còn phải khai báo và nộp khoản thuế sát sinh cho cơ quan thuế hoặc các đơn vị được ủy nhiệm thu tại địa phương đối với số lượng gia súc giết mổ từ thời điểm nêu trên.
Quy định về việc chuyển đổi sang các khoản thu khác
- Mặc dù bãi bỏ thuế sát sinh, các tổ chức và cá nhân hoạt động giết mổ, kinh doanh gia súc, gia cầm vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (hoặc thuế thu nhập cá nhân) đối với hoạt động kinh doanh, dịch vụ giết mổ theo quy định của các luật thuế hiện hành.
- Chuyển sang áp dụng thu phí, lệ phí kiểm dịch thú y và lệ phí sát sinh (nếu có) theo đúng danh mục phí, lệ phí do Nhà nước quy định nhằm bảo đảm kinh phí cho công tác kiểm soát dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường tại các cơ sở giết mổ.
- Nghiêm cấm các địa phương, cơ quan tự ý đặt ra các khoản phí, lệ phí hoặc các khoản đóng góp khác trái quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động giết mổ và vận chuyển gia súc.
Xử lý các vấn đề tài chính tồn đọng
- Đối với số nợ thuế sát sinh phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 1999, cơ quan thuế các cấp có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương tiếp tục đôn đốc, đối chiếu và thu hồi triệt để vào ngân sách nhà nước, không thực hiện xóa nợ bao vây đối với các trường hợp cố tình chây ỳ.
- Các chứng từ, biên lai thu thuế sát sinh còn tồn kho tại cơ quan thuế các cấp phải được thực hiện kiểm kê, thanh hủy theo đúng chế độ quản lý ấn chỉ thuế của Bộ Tài chính.
Tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo các ngành, các cấp ở địa phương quán triệt và thực hiện nghiêm túc việc bãi bỏ thuế sát sinh.
- Cơ quan thuế phối hợp chặt chẽ với cơ quan Thú y, Quản lý thị trường và Công an để tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về thú y, phòng chống dịch bệnh, đồng thời chống thất thu thuế đối với hoạt động kinh doanh thịt gia súc, gia cầm trên thị trường.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 15/1999/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (ngày 05 tháng 02 năm 1999). Các quy định về bãi bỏ thuế sát sinh hướng dẫn tại Thông tư này được áp dụng thống nhất từ ngày 01 tháng 01 năm 1999. Những quy định trước đây của Bộ Tài chính và các địa phương trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 15/1999/TT-BTC | Hà Nội, ngày 04 tháng 2 năm 1999 |
Căn cứ Nghị quyết số 16/1998/QH10 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá X, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 23 tháng 11 năm 1998 về bãi bỏ thuế sát sinh.
Căn cứ công văn số 57/CP-KTTH ngày 16 tháng 1 năm 1999 của Chính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện.
Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
- Tổ chức, cá nhân hoạt động dịch vụ giết mổ lợn, trâu, bò, dê phải nộp thuế giá trị gia tăng theo thuế suất đối với hoạt động dịch vụ và thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Tổ chức, cá nhân kinh doanh mua lợn, trâu, bò, dê về giết thịt bán nộp thuế giá trị gia tăng theo thuế suất áp dụng đối với mặt hàng thực phẩm tươi sống và thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Đối với những trường hợp còn nợ thuế sát sinh (trước ngày 1/1/1999) phải đôn đốc các tổ chức, cá nhân này nộp ngay vào Ngân sách Nhà nước. Khi thu nợ thuế sát sinh thì sử dụng biên lai thu tiền (CTT11) để thu
- Tổ chức thanh toán, thu hồi biên lai thuế sát sinh do cán bộ thuế hoặc uỷ nhiệm thu giữ, khi thanh toán phải lập biên bản xác định rõ đến ngày 31/12/1998:
+ Số biên lai đã lĩnh, ký hiệu, số quyển, từ số... đến số...
+ Số biến lai đã thu thuế, số còn lại, ký hiệu, số quyển, từ số... đến số...
+ Số tiền thuế đã thu, đã nộp vào ngân sách.
+ Số tiền thuế còn chưa nộp vào ngân sách.
Trường hợp tổ chức, cá nhân đã thu thuế sát sinh nhưng chưa nộp thì phối hợp với các ngành chức năng của quận, huyện, thị xã để có biện pháp thu hồi nộp Ngân sách.
- Số tiền thuế sát sinh đã thu, nhưng chưa nộp vào ngân sách trong tháng 12/1998, chuyển sang năm 1999 mới nộp ngân sách và số tiền thuế bị xâm tiêu thu hồi được sẽ nộp vào chương 18-Kinh tế cá thể, Mục 062 Thu khác, Tiểu Mục 04 thu khác về thuế, loại, khoản tương ứng.
- Các biên lai thu thuế sát sinh chưa thu, sau khi đã thu hồi, các chi cục thuế tập hợp và làm thủ tục trả về cục thuế để xử lý theo chế độ quy định.
Chậm nhất đến ngày 31/3/1999 các địa phương phải thực hiện xong việc quyết toán biên lai, xác định số thuế còn phải nộp ngân sách và thanh quyết toán biên lai chưa sử dụng về Tổng cục thuế.
Tổng cục thuế chịu trách nhiệm chỉ đạo cục thuế các địa phương thực hiện việc bãi bỏ thuế sát sinh.
Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc, đề nghị các đơn vị kịp thời phản ánh về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết.
| Phạm Văn Trọng (Đã ký) |
Thông tư 15/1999/TT-BTC hướng dẫn thực hiện việc bãi bỏ thuế sát sinh do Bộ Tài chính ban hành
- Số hiệu: 15/1999/TT-BTC
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 04/02/1999
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Phạm Văn Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 19/02/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
