Ngày 28 tháng 5 năm 1973, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 129-TTg về việc giải quyết một số vấn đề về công tác giải phóng lòng sông. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng lòng sông bị lấn chiếm, cản trở dòng chảy, bảo đảm an toàn giao thông đường thủy và phục vụ đắc lực cho công tác phòng, chống lụt bão trong tình hình mới.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và mọi công dân có hoạt động sản xuất, sinh hoạt liên quan đến hành lang an toàn đường thủy, lòng sông, bãi sông trên phạm vi cả nước, đặc biệt là tại các tuyến sông trọng điểm về giao thông và đê điều.
- Mục đích và yêu cầu của công tác giải phóng lòng sông
- Bảo đảm dòng chảy thông suốt trong mùa mưa lũ, hạn chế tối đa nguy cơ ngập lụt và bảo vệ an toàn cho hệ thống đê điều, công trình thủy lợi.
- Khôi phục và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hoạt động giao thông vận tải đường thủy, phục vụ công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
- Giải quyết dứt điểm các chướng ngại vật, công trình xây dựng trái phép, các phương tiện đánh bắt thủy sản lắp đặt không đúng quy định trên các tuyến sông.
- Các biện pháp xử lý và giải tỏa chướng ngại vật
- Nghiêm cấm mọi hành vi tự ý xây dựng nhà ở, lều quán, kho tàng, bến bãi hoặc các công trình kiến trúc khác trên lòng sông, bãi sông khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.
- Tiến hành rà soát, phân loại và yêu cầu chủ sở hữu tự tháo dỡ, di dời các loại đăng, đó, vó, bè nuôi trồng thủy sản, các phương tiện đánh bắt đặt sai vị trí gây cản trở luồng lạch chạy tàu.
- Tổ chức lực lượng chuyên trách thực hiện trục vớt, thanh thải các chướng ngại vật dưới nước, xác tàu thuyền chìm đắm do chiến tranh hoặc tai nạn giao thông gây ra trên các tuyến đường thủy nội địa.
- Phân công trách nhiệm thực hiện giữa các cơ quan và địa phương
- Ủy ban hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm toàn diện trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện giải phóng lòng sông tại địa phương; chủ động phối hợp với các ngành liên quan để giải quyết dứt điểm các vi phạm.
- Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Thủy lợi xác định rõ phạm vi luồng chạy tàu, hành lang bảo vệ luồng, cung cấp các thông số kỹ thuật và cắm mốc chỉ giới đỏ để các địa phương thực hiện giải tỏa.
- Bộ Công an chỉ đạo lực lượng cảnh sát đường thủy phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc giữ gìn trật tự an toàn giao thông, hỗ trợ cưỡng chế các trường hợp cố tình không chấp hành quyết định giải tỏa.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục và chính sách hỗ trợ
- Các cấp chính quyền cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong quần chúng nhân dân về ý nghĩa của việc bảo vệ lòng sông, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn giao thông đường thủy.
- Đối với những hộ gia đình nghèo, hộ dân vạn chài sinh sống lâu năm trên sông nước phải di dời, chính quyền địa phương cần phối hợp với các ngành chức năng xem xét, hỗ trợ đất ở, chuyển đổi nghề nghiệp để họ sớm ổn định cuộc sống trên bờ.
Thông tư 129-TTg năm 1973 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Phủ Thủ tướng và Ủy ban hành chính các địa phương có trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT |
| Số: 129-TTg | Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 1973 |
VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ TRONG CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG LÒNG SÔNG
Căn cứ báo cáo của Bộ Thủy lợi và Ủy ban Thanh tra của Chính phủ về việc thực hiện công tác phòng chống lũ, lụt năm 1973 , Thủ tướng Chính phủ giải quyết một số vấn đề cụ thể về công tác giải phóng lòng sông, như sau:
a) Mức trợ cấp bình quân bằng tiền và gạo tại các tỉnh và thành phố là 400 đồng và 40kilôgam gạo cho một hộ phải di chuyển nhà cửa. Về phần gạo, Nhà nước trợ cấp bằng cách cho nguyên gạo.
b) Đối với những nhà cửa của nhân dân xây dựng từ năm 1970 trở lại đây không được xét trợ giúp vì đã không nghiêm chỉnh thi hành chỉ thị cấm việc phát triển xây dựng mới tại vùng bối bãi. Về điểm này, trong trường hợp nhân dân không được chính quyền địa phương phổ biến chủ trương cấm việc xây dựng mới hoặc hoàn cảnh kinh tế của những hộ phải di chuyển thực sự gặp khó khăn, thì Ủy ban Hành chính huyện sẽ xét trợ giúp một phần dưới mức quy định nói trên, để tạo điều kiện cho nhân dân di chuyển.
Ủy ban Hành chính các địa phương phải phổ biến ngay chỉ thị cấm việc xây dựng mới ở bối bãi mà Nhà nước không cho phép. Từ khi ban hành thông tư này, ai còn tiếp tục xây dựng mới thì không những không được xét trợ giúp mà còn phải xử lý thích đáng.
c) Đối với nhà thờ, đình chùa nằm trong phạm vi dòng chảy được quy định, nói chung chưa đặt vấn đề di chuyển. Trong trường hợp thật cần thiết phải di chuyển thì Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố bàn với Bộ Thủy lợi quyết định, nhưng phải có kế hoạch chỉ đạo thật chặt chẽ, không được để xảy ra sự phàn nàn trong nhân dân; trường hợp nhân dân có yêu cầu xây dựng lại ở nơi khác thì căn cứ vào giá trị tài sản cố định còn lại của nhà thờ hoặc đình chùa đó mà trợ giúp phần chi phí, hư hao vật liệu. Đối với những di tích lịch sử có giá trị là cơ sở bảo tồn, bảo tàng được xếp hạng thuộc Bộ Văn hóa quản lý, hoặc chưa được xếp hạng do địa phương phát hiện cần phải di chuyển thì Bộ Văn hóa bàn bạc với Ủy ban Hành chính địa phương để có kế hoạch cụ thể về việc di chuyển và xây dựng lại những phần có giá trị của cơ sở . Kinh phí di chuyển và xây dựng lại được giải quyết theo quy định nói trên ; phần tu sửa, phục trang những hiện vật của cơ sở do kinh phí sự nghiệp của ngành văn hóa đài thọ .
d) Việc lăn bối hiện nay ở một số nơi chủ yếu là để kịp thời bảo vệ sản xuất, chưa thể xác định ngay thành tuyến đê chính được, vì vậy vấn đề kinh phí lăn bối được giải quyết theo chế độ dân công và do ngân sách địa phương đài thọ .
| K.T THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Thông tư 129-TTg 1973 giải quyết một số vấn đề về công tác giải phóng lòng sông do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 129-TTg
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 29/05/1973
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Lê Thanh Nghị
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 8
- Ngày hiệu lực: 13/06/1973
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
