Thông tư 1034-HTĐT/TĐ được ban hành năm 1992 bởi Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư nhằm hướng dẫn chi tiết việc các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam để tiếp tục tái đầu tư. Đây là một chính sách quan trọng trong giai đoạn đầu mở cửa kinh tế, khuyến khích dòng vốn ngoại lưu giữ và tiếp tục xoay vòng phát triển tại thị trường Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài (nhà đầu tư nước ngoài) có lợi nhuận hợp pháp từ các hoạt động đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh bao gồm các điều kiện, thủ tục hành chính và chính sách ưu đãi tài chính liên quan đến hành vi dùng lợi nhuận được chia để tái đầu tư vào dự án hiện tại hoặc đầu tư vào một dự án mới.
- Điều kiện để được chấp thuận tái đầu tư
- Nhà đầu tư nước ngoài phải hoàn thành nghĩa vụ góp đủ vốn pháp định (hoặc vốn điều lệ) ghi trong Giấy phép đầu tư hoặc Giấy phép kinh doanh đã được cấp trước đó.
- Khoản lợi nhuận sử dụng để tái đầu tư phải là lợi nhuận hợp pháp, được chia sau khi doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế thu nhập và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước Việt Nam.
- Thời gian cam kết sử dụng vốn tái đầu tư vào dự án phải đạt tối thiểu từ 03 năm trở lên.
- Dự án nhận vốn tái đầu tư phải phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và thuộc diện được khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Chính sách hoàn thuế thu nhập đối với lợi nhuận tái đầu tư
- Nhà đầu tư thực hiện tái đầu tư hợp pháp theo đúng các điều kiện quy định sẽ được xem xét hoàn lại một phần hoặc toàn bộ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp cho phần lợi nhuận mang đi tái đầu tư.
- Mức độ hoàn thuế cụ thể được xác định dựa trên tính chất ưu tiên của dự án tái đầu tư, địa bàn khuyến khích đầu tư và quyết định cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài.
- Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết về thời gian tái đầu tư (rút vốn trước thời hạn 03 năm), nhà đầu tư có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ số tiền thuế đã được hoàn cho ngân sách nhà nước.
- Thủ tục và hồ sơ đăng ký tái đầu tư
- Nhà đầu tư có nhu cầu tái đầu tư phải gửi hồ sơ đề nghị đến Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư để được xem xét và phê duyệt chấp thuận bằng văn bản.
- Hồ sơ đăng ký bao gồm: Đơn xin tái đầu tư; văn bản xác nhận của cơ quan thuế có thẩm quyền về số lợi nhuận được chia và số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp; phương án sử dụng vốn tái đầu tư hoặc luận chứng kinh tế - kỹ thuật của dự án mới; biên bản họp và nghị quyết của Hội đồng quản trị doanh nghiệp về việc đồng ý dùng lợi nhuận để tái đầu tư.
- Sau khi nhận được văn bản chấp thuận tái đầu tư từ Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư, nhà đầu tư tiến hành làm việc với cơ quan tài chính và cơ quan thuế trực tiếp quản lý để thực hiện các thủ tục hoàn trả thuế theo quy định pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 1034-HTĐT/TĐ năm 1992 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định tại Thông tư này đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết quyền lợi sát sườn về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời thúc đẩy quá trình tích tụ và tái sản xuất mở rộng nguồn vốn FDI tại Việt Nam trong những năm đầu thập niên 90.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC VÀ ĐẦU TƯ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1034-HTĐT/TĐ | Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 1992 |
Nhằm thực hiện Điều 32 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Điều 74 Nghị định 28-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư hướng dẫn việc dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư ở Việt Nam như sau:
1. "Tái đầu tư" là dùng lợi nhuận thu được do hoạt động đầu tư ở Việt Nam để:
- Tăng (hoặc góp phần tăng) vốn pháp định hoặc vốn đầu tư của một dự án đang thực hiện; hoặc
- Đầu tư vào một dự án mới ở Việt Nam
a) Giấy chứng nhận (hoặc biên lai hoặc bản sao đã được cơ quan công chứng xác nhận) của cơ quan thuế, trong đó ghi rõ số thuế lợi tức đã nộp.
b) Tờ khai số lợi nhuận tái đầu tư. Trường hợp dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư vào một dự án mới thì dự án đó phải là dự án đã được Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư cấp Giấy phép. Trường hợp dùng lợi nhuận thu được để tăng (hoặc góp phần tăng) vốn đầu tư hoặc vốn pháp định của xí nghiệp liên doanh thì phải được Hội đồng quản trị nhất trí; để tăng vốn đầu tư hoặc vốn pháp định của xí nghiệp 100% vốn nước ngoài thì phải có giải trình của Giám đốc xí nghiệp. Trong tờ khai phải cam kết tái đầu tư từ 3 năm trở lên.
8. Việc lợi dụng hoạt động tái đầu tư để trốn thuế lợi tức sẽ bị xử lý theo pháp luật.
| Nguyễn Mại (Đã ký) |
- 1Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987
- 2Nghị định 28-HĐBT năm 1991 Hướng dẫn Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Thông tư 55-TC/TCT/TT năm 1991 thực hiện các quy định về thuế đối với các Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng theo Luật đầu tư nước ngoài do Bộ Tài chính ban hành
Thông tư 1034-HTĐT/TĐ năm 1992 hướng dẫn việc dùng lợi nhuận để tái đầu tư do Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và đầu tư ban hành
- Số hiệu: 1034-HTĐT/TĐ
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 01/08/1992
- Nơi ban hành: Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư
- Người ký: Nguyễn Mại
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/08/1992
- Ngày hết hiệu lực: 08/02/1995
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
