Thông tư 10-TT/BNV(C13) ban hành năm 1989 do Bộ Nội vụ ban hành hướng dẫn chi tiết việc cấp và sử dụng giấy chứng nhận làm nghề trên biển. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập trật tự, an ninh trên biển, đồng thời quản lý chặt chẽ lực lượng lao động và phương tiện hoạt động trong vùng nội thủy, lãnh hải của Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Thông tư quy định phạm vi áp dụng đối với toàn bộ hoạt động cấp phát, quản lý và sử dụng giấy chứng nhận làm nghề trên biển trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý an ninh trật tự bờ biển, lực lượng công an các cấp và mọi công dân Việt Nam trực tiếp tham gia lao động, sản xuất, khai thác thủy hải sản hoặc vận tải trên các phương tiện hoạt động trên biển.
Mục đích của việc cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển
- Xác định tư cách pháp lý hợp pháp của người lao động khi hoạt động trên các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chức năng như Công an, Biên phòng kiểm soát người và phương tiện ra vào các cửa sông, cửa biển.
- Phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, buôn lậu hoặc vượt biên trái phép bằng đường biển.
Đối tượng được cấp và điều kiện tiêu chuẩn
- Công dân Việt Nam từ đủ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có hộ khẩu thường trú hoặc đăng ký tạm trú hợp pháp tại các địa phương ven biển hoặc có ngành nghề liên quan đến biển.
- Người lao động phải có đủ sức khỏe, năng lực hành vi dân sự và không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc hạn chế hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Các trường hợp không được cấp bao gồm: Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang chấp hành án phạt tù hoặc các hình phạt quản chế, người có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia chưa được xóa án tích.
Thủ tục, hồ sơ và thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
- Hồ sơ đề nghị cấp bao gồm: Đơn xin cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển (theo mẫu quy định), bản khai lý lịch cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, ảnh chân dung mới nhất và các giấy tờ chứng minh phương tiện hoạt động hợp pháp.
- Thẩm quyền tiếp nhận và xử lý hồ sơ: Cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh tại các địa phương ven biển chịu trách nhiệm thu nhận hồ sơ, tiến hành thẩm tra lý lịch và thực hiện việc cấp giấy chứng nhận cho công dân.
- Thời hạn giải quyết hồ sơ phải được thực hiện nhanh chóng, đúng quy trình nghiệp vụ để không gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngư dân và người lao động.
Quy định về quản lý và sử dụng giấy chứng nhận
- Người được cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn cẩn thận và luôn mang theo người trong suốt quá trình hoạt động trên biển.
- Khi có yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của các lực lượng tuần tra kiểm soát hợp pháp trên biển (Công an, Biên phòng, Hải quan), người lao động phải xuất trình giấy chứng nhận kịp thời.
- Nghiêm cấm mọi hành vi tự ý tẩy xóa, sửa chữa nội dung ghi trên giấy chứng nhận; nghiêm cấm việc cho mượn, cho thuê, mua bán hoặc sử dụng giấy chứng nhận của người khác.
- Trường hợp giấy chứng nhận bị mất, rách, hỏng hoặc có sự thay đổi về thông tin nhân thân, người sử dụng phải báo cáo ngay cho cơ quan Công an nơi cấp để làm thủ tục cấp lại hoặc đổi mới theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 10-TT/BNV(C13) năm 1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Nội vụ hoặc các địa phương trái với tinh thần và nội dung của Thông tư này đều bãi bỏ. Lực lượng Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc thông tư này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10-TT/BNV(C13) | Hà Nội, ngày 03 tháng 9 năm 1989 |
Để khắc phục những tồn tại trên đây, góp phần bảo vệ chủ quyền, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trên tuyến biển của nước ta đồng thời đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân làm nghề trên biển. Bộ Nội vụ ra Thông tư này thay thế Thông tư số 20-CAVT ngày 25-5-1979 hướng dẫn việc cấp và sử dụng giấy chứng nhận làm nghề trên biển.
I. TIÊU CHUẨN, THỦ TỤC XÉT CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN LÀM NGHỀ TRÊN BIỂN
1. Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 15 tuổi trở lên là nhân khẩu thường trú ở địa phương, lý lịch rõ ràng, có nghề chuyên môn thích hợp đều được xét cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển.
2. Những người chưa được cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển:
a) Những người đang bị quản chế, bị cấm cư trú ở bờ biển, hải đảo ghi trong bản án của Toà án Nhân dân hoặc quyết định của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.
b) Những người vi phạm Luật Hình sự đang trong diện điều tra, đang chờ xét sử, đang chờ hoặc đang thi hành án.
c) Những người bị tập trung cải tạo, bị tù được tha về nay còn có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc những hành động khác có hại cho an ninh trật tự mà nhân dân đã nhận xét đề nghị chưa được cấp giấy làm nghề trên biển.
Những người phạm một trong các điểm trên đây, chưa được cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển, cơ quan công an có quyền được cấp giấy trước khi quyết định phải xác minh, kiểm tra thận trọng, chính xác, phải căn cứ vào ý kiến nhân dân nơi người đó cư trú, và phải chịu trách nhiệm về những kết luận ấy.
2. Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển có:
- Nộp một đơn xin cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi đăng ký nhân khẩu thường trú.
- Nộp 2 ảnh cỡ 3 x 4 (kiểu ảnh dán giấy chứng minh nhân dân).
- Nộp tiền lệ phí theo quy định chung.
3. Thời hạn xét đơn.
Sau 10 ngày kể từ ngày nộp đơn cơ quan công an có thẩm quyền cấp giấy phải xét cấp hay không cấp để trả lời cho người xin cấp giấy.
4. Trưởng công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt và ký giấy chứng nhận làm nghề trên biển. Mẫu giấy do Bộ Nội vụ ban hành.
II. SỬ DỤNG GIẤY CHỨNG NHẬN LÀM NGHỀ TRÊN BIỂN
1. Phải mang theo giấy khi đi làm nghề trên biển kèm theo giấy chứng minh nhân dân và chỉ được đi trong phạm vi giấy phép quy định. Phải xuất trình các loại giấy tờ kể trên khi có sự kiểm soát của Bộ đội biên phòng hoặc Cảnh sát nhân dân hoặc Hải quân tuần tra trên biển.
2. Người được cấp giấy chứng nhận làm nghề trên biển khi không tiếp tục làm nghề trên biển nữa; hoặc bị cấm hành nghề, cấm cư trú ở vùng biển, hải đảo; bị tập trung cải tạo, bị quản chế hoặc có liên quan đến các vụ án đang điều tra, xét sử, thi hành án thì phải nộp giấy chứng nhận làm nghề trên biển cho Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi cư trú hoặc do Uỷ ban nhân dân xã, phường sở tại thu lại giấy đó để giao cho Công an quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cấp giấy.
3. Nếu giấy hư hỏng phải nộp cho cơ quan Công an nơi cấp để đổi giấy khác. Mất giấy phải báo và xin giấy chứng nhận của cơ quan Công an hoặc chính quyền nơi để mất giấy và báo cho cơ quan Công an cấp giấy xin cấp lại giấy khác.
4. Nghiêm cấm việc giả mạo hồ sơ, tài liệu, mạo tên người khác để lấy giấy chứng nhận làm nghề trên biển hoặc cho thuê, cho mượn, buôn bán, làm giả, tẩy soá, sửa chữa giấy chứng nhận làm nghề trên biển.
5. Người nào vi phạm các quy định trong Thông tư này sẽ tuỳ trường hợp và mức độ vi phạm mà bị xử lý như cảnh cáo, phạt tiền theo điều lệ phạt vi cảnh; thu hồi giấy phép từ 6 tháng đến 1 năm hoặc thu vĩnh viễn, nếu nghiêm trọng sẽ sử lý theo Bộ luật Hình sự.
2. Các đồng chí Giám đốc công an các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương nơi có người làm nghề trên biển phải tranh thủ sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp mình và chỉ đạo các cấp công an thuộc quyền nghiêm chỉnh thực hiện Thông tư này.
3. Tổng cục Cảnh sát nhân dân có kế hoạch hướng dẫn và theo dõi kiểm tra đôn đốc Công an các địa phương thực hiện.
4. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau một tháng kể từ ngày ký. Những văn bản trước đây của Bộ Nội vụ trái với Thông tư này đều bãi bỏ.
| Phạm Tâm Long (Đã ký) |
Thông tư 10-TT/BNV(C13) năm 1989 hướng dẫn việc cấp và sử dụng giấy chứng nhận làm nghề trên biển do Bộ nội vụ ban hành
- Số hiệu: 10-TT/BNV(C13)
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 03/09/1989
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Phạm Tâm Long
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 20
- Ngày hiệu lực: 03/10/1989
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
