Thông tư 07-BYT-TT được Bộ Y tế ban hành năm 1964 quy định chi tiết về việc thành lập, bảo quản và sử dụng túi thuốc cấp cứu thông thường tại các cơ quan, xí nghiệp, trường học và các đơn vị cơ sở. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm công tác tự vệ, sơ cứu kịp thời và bảo vệ sức khỏe cho người lao động, nhân dân trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với tất cả các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, công trường, nông trường, trường học, các hợp tác xã và các đơn vị tập thể khác trên phạm vi cả nước. Đối tượng chịu trách nhiệm trực tiếp là thủ trưởng các đơn vị và cán bộ y tế cơ sở phụ trách công tác bảo vệ sức khỏe.
Quy định về việc thành lập túi thuốc cấp cứu thông thường
- Các đơn vị, cơ sở lao động và tập thể phải chủ động trang bị túi thuốc cấp cứu thông thường dựa trên quy mô nhân sự và đặc thù hoạt động của đơn vị.
- Danh mục thuốc và dụng cụ y tế trong túi thuốc phải bao gồm các loại thuốc thiết yếu phục vụ cho việc sơ cứu tại chỗ như thuốc sát trùng, bông, băng, gạc, thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt và các dụng cụ y tế cơ bản khác.
- Số lượng và chủng loại thuốc phải được phân bổ hợp lý, bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp cứu khẩn cấp trước khi chuyển bệnh nhân lên tuyến y tế cao hơn.
Quy định về bảo quản túi thuốc cấp cứu
- Túi thuốc cấp cứu phải được đặt ở những vị trí thuận tiện, dễ thấy, dễ lấy nhưng phải bảo đảm khô ráo, thoáng mát và tránh ánh nắng trực tiếp để không làm ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.
- Phải phân công cán bộ y tế hoặc người có chuyên môn chịu trách nhiệm quản lý, kiểm tra định kỳ tình trạng của túi thuốc.
- Thường xuyên rà soát hạn sử dụng của các loại thuốc, kịp thời bổ sung các loại thuốc đã sử dụng hết hoặc thay thế các loại thuốc đã hết hạn, hư hỏng.
Quy định về sử dụng túi thuốc cấp cứu
- Việc sử dụng thuốc và dụng cụ trong túi cấp cứu phải tuân thủ đúng hướng dẫn chuyên môn của ngành y tế, bảo đảm an toàn cho người được sơ cứu.
- Cán bộ phụ trách túi thuốc hoặc người được giao nhiệm vụ sơ cứu phải được tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về kỹ thuật sơ cứu, băng bó vết thương và cách sử dụng các loại thuốc thông thường.
- Nghiêm cấm việc tự ý sử dụng thuốc trong túi cấp cứu vào các mục đích cá nhân hoặc không đúng với chức năng sơ cứu, cấp cứu ban đầu.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 07-BYT-TT năm 1964 có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các cơ quan, đơn vị và địa phương có trách nhiệm tổ chức triển khai, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện nghiêm túc các quy định về túi thuốc cấp cứu thông thường tại cơ sở mình quản lý.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ Y TẾ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 07-BYT-TT | Hà Nội, ngày 06 tháng 04 năm 1964 |
QUY ĐỊNH VIỆC THÀNH LẬP, BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG TÚI THUỐC CẤP CỨU THÔNG THƯỜNG
| Kính gửi: | -Các bộ, các cơ quan ngang bộ |
Tình hình sản xuất ngày càng phát triển, việc cấp cứu các tai nạn lao động trong các xí nghiệp, công, nông, lâm trường, cơ quan ngày càng quan trọng, cấp thiết, đòi hỏi phải sử dụng màng lưới vệ sinh viên hoạt động đếu đặn với một túi thuốc cấp cứu, để sơ cứu các tai nạn trong sản xuất. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản xuất được tốt.
Trước đây một số nơi có thi hành thông tư liên Bộ Lao động – Y tế số 1061-LB ngày 20-9-1956 về chế độ bảo vệ sức khỏe cho công nhân ở các nông, công, lâm trường, xí nghiệp của Chính phủ nên có thành lập túi thuốc cấp cứu. Việc thành lập, sử dụng chưa được quy định cụ thể, có nơi thực hiện, có nơi không, hoặc có thành lập cũng không được theo dõi, bảo quản tốt. Do đó việc sử dụng và phát huy tác dụng túi thuốc cấp cứu còn quá ít, túi thuốc đó phần lớn do cán bộ y tế giữ.
Để bổ khuyết những thiếu xót trên, sau khi đã được các Bộ, Tổng cục tham gia ý kiến, và sự góp ý của Bộ Lao động (công văn số 30-LĐBH ngày 10-01-1964) và Bộ Tài chính (công văn số 136-TC-CNKT ngày 31-12-1963), nay Bộ quy định việc thành lập túi thuốc cấp cứu thông thường, quy định nguyên tắc sử dụng, bảo quản nhằm nâng cao tác dụng của túi thuốc cấp cứu.
A. CÁC ĐƠN VỊ PHẢI LẬP TÚI THUỐC CẤP CỨU THÔNG THƯỜNG
Tất cả các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường của trung ương và địa phương, các cơ quan, các hợp tác xã thủ công, các xí nghiệp công tư hợp doanh, các đoàn thăm dò khảo sát, đo đạc, địa chất, các phương tiện vận tải như xe lửa, ô-tô chở khách, ô-tô vận tải đi từng đoàn, tầu thuỷ, ca-nô, đoàn thuyền vận tải của Chính phủ, các ga xe lửa, các đội, các phân đội cầu đường của tổ chức đường sắt,…đều phải thành lập túi thuốc cấp cứu thông thường. Túi thuốc này gồm hai loại:
1. Túi thuốc cấp cứu thông thường do vệ sinh viên giữ.
2. Túi thuốc cấp cứu thông thường do y tá, y bác sĩ thường trực giữ.
B. CÁC LOẠI THUỐC CẤP CỨU THÔNG THƯỜNG
a) Túi thuốc cấp cứu thông thường do vệ sinh viên giữ:
1. Tất cả các cơ sở nói trên phải thành lập túi thuốc cấp cứu, tuỳ theo tình hình tổ chức sản xuất mà bố trí túi thuốc cấp cứu.
- Những nơi làm việc tập trung, mỗi phân xưởng như cơ khí, nề, mộc, mỗi đội sản xuất, đội khai thác, thăm dò địa chất, khai hoang của nông trường …đều phải thành lập một túi thuốc thông thường do vệ sinh viên giữ.
- Những nơi làm việc chia theo tổ xa nhau khoảng 500m đều phải lập một túi thuốc cấp cứu (trường hợp này không phải thành lập túi thuốc cấp cứu cho phân xưởng, ban nữa).
2. Túi thuốc cấp cứu này do vệ sinh viên bảo quản, sử dụng dưới sự chỉ đạo chuyên môn của tổ chức y tế dưới sự kiểm soát của phân xưởng, ban, hoặc đội mình phụ trách.
3. Thuốc cấp cứu phải được xếp gọn trong túi cấp cứu bằng da, vải bạt hoặc ni-lông (nếu là đội lưu động) hoặc bằng gỗ, sắt tây, thiếc treo trên tường nơi làm việc (nếu là tĩnh tại) và có khoá bảo quản.
4. Thuốc cấp cứu như thuốc viên, thuốc mỡ, thuốc nước, bông băng, kìm, kéo,… phải được đóng gói trong lọ, hộp, …và phải có nhãn hiệu rõ ràng.
5. Trong mỗi túi thuốc cấp cứu phải có một quyển sổ nhỏ để ghi chép việc sử dụng thuốc, ghi chép các trường hợp tai nạn lao động, cuối tuần vệ sinh viên đi báo cáo và lĩnh thêm thuốc. Trường hợp thuốc hết và chưa tới ngày lĩnh, vệ sinh viên phải báo cáo ngay, y tế cơ sở có trách nhiệm bổ sung cho đủ thuốc quy định.
6. Khi hết giờ làm việc, vệ sinh viên phải kiểm tra lại thuốc, khoá lại mang về (nếu làm một ca) hoặc bàn giao lại cho vệ sinh viên làm ca tiếp (khi bàn gioa sử dụng cần có ký nhận).
7. Những người không có trách nhiệm không có quyền sử dụng (dù là vệ sinh viên của đội nhưng không được phân công giữ túi thuốc cũng không có quyền sử dụng).
8. Để việc sử dụng bảo quản thuốc được tốt, vệ sinh viên phải được học tập chuyên môn về y tế mỗi tháng hai giờ tính vào giờ sản xuất. Ban Giám đốc cơ sở cần tạo điều kiện để thực hiện tốt việc họctập này.
Việc sử dụng giờ huấn luyện cho vệ sinh viên cần bố trí sát với điều kiện và hoàn cảnh của từng nơi. Các xí nghiệp hoạt động theo thời vụ, các nông trường, công trường kiến thiết cơ bản khi gặp mưa bão có thể tổ chức học tập cho vệ sinh viên trong những ngày ngừng việc.
9. Khi xẩy ra tai nạn lao động hàng loạt, vệ sinh viên phải chịu sự điều động của tổ chức y tế cơ sở.
10. Giờ làm nhiệm vụ cấp cứu được coi như giờ sản xuất.
11. Các cán bộ y tế cơ sở có trách nhiệm trau dồi kỹ thuật chuyên môn cho vệ sinh viên. Chương trình huấn luyện cần nghiên cứu kỹ, cụ thể thiết thực phục vụ công tác trước mắt.
12. Các cán bộ y tế cơ sở có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra việc sử dụng, bảo quản túi thuốc và luôn luôn chú ý để bổ sung thêm thuốc cho đủ số quy định.
13. Vệ sinh viên có trách nhiệm giữ gìn, bảo quản, sử dụng túi thuốc cấp cứu, không được để mất mát, hư hỏng.
b) Túi thuốc cấp cứu do y tá, y bác sĩ thường trực giữ:
14. Tất cả các cơ sở nói trên đều phải thành lập túi thuốc cấp cứu thông thường do y tá, y bác sĩ thường trực giữ. Nơi nào đã có cũng cần phải chấn chỉnh lại cho đủ thuốc, đủ phương tiện cấp cứu đã quy định.
15. Hàng ngày mỗi khi giao nhận ca, đều phải bàn giao túi thuốc cấp cứu, có ghi chép đầy đủ việc sử dụng thuốc, tình hình tai nạn lao động. Người nhận giao ca phải lĩnh thêm thuốc đề bù vào số thuốc đã sử dụng cho ca trước.
16. Các phương tiện cấp cứu như: túi thuốc, cáng tải thương… phải được chuẩn bị chu đáo và luôn luôn sẵn sàng phục vụ, ống tiêm, kim, kéo phải được xếp gọn vào hộp cấp cứu và đã được khử trùng.
17. Các cán bộ trong Ban Y tế có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở việc bảo quản, sử dụng túi thuốc cấp cứu.
18. Tuyệt đối không được sử dụng thuốc cấp cứu (túi thuốc của y tá, y bác sĩ giữ) vào điều trị thông thường.
.................................
C. NGUỒN KINH PHÍ ĐỂ LẬP TÚI THUỐC CẤPCỨU
Căn cứ vào Nghị định số 43-CP ngày 16-9-1960 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư 115-TTg tháng 12-1963 về vấn đề điều lệ giá thành, sau khi trao đổi ý kiến với các Bộ và Bộ Tài chính thì:
- Khi mới thành lập túi thuốc cấp cứu, các cơ sở sẽ trích vào giá thành để xây dựng túi thuốc cấp cứu. Trường hợp giá thành cao quá thì tạm thời phân bổ.
- Đối với các phương tiện vận chuyển hành khách như ô-tô, xe lửa,… trường hợp cần sử dụng thuốc cấp cứu cho hành khách thì lấy trong túi thuốc cấp cứu của nhân viên. Khi sử dụng hết bao nhiêu sẽ tính vào giá thành và trích trả lại cho túi thuốc công nhân viên.
- Những lần bổ sung thêm thuốc cấp cứu cho đủ quy định sẽ do y tế cơ sở chịu trách nhiệm.
Tình hình cán bộ y tế của ta chưa đủ đáp ứng đầy đủ nhu cầu của sản xuất, do đó vai trò vệ sinh viên vẫn quan trọng, việc thành lập và sử dụng túi thuốc cấp cứu vẫn cần thiết.
Để việc thực hiện thông tư này được tốt.
- Cơ quan lao động địa phương có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện;
- Các cơ quan y tế có trách nhiệm thực hiện đầy đủ thông tư này về mặt chuyên môn, thường xuyên kiểm tra và hướng dẫn y tế cơ sở thực hiện;
- Công đoàn có trách nhiệm thay mặt công nhân lao động giám đốc chính quyền, y tế thi hành thông tư này;
Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký,các quy định trái với thông tư này không có giá trị.
| BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ |
Thông tư 07-BYT-TT-1964 quy định việc thành lập, bảo quản và sử dụng túi thuốc cấp cứu thông thường do Bộ Y tế ban hành
- Số hiệu: 07-BYT-TT
- Loại văn bản: Thông tư
- Ngày ban hành: 06/04/1964
- Nơi ban hành: Bộ Y tế
- Người ký: Phạm Ngọc Thạch
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 06/04/1964
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
